Hỏi và Đáp / By Maththorg. Nguy cơ chính trong viêm tắc tĩnh mạch sâu chi dưới: A. Giãn tĩnh mạch + tắc mạch phổi. B. Loét tĩnh mạch + tắc mạch phổi. C. Viêm tĩnh mạch + tắc mạch phổi. D. Di chứng cơ năng + tắc mạch phổi. Hướng dẫn. Chọn D là đáp án đúng. ← Previous Bài
Hay gặp ở người suy tĩnh mạch chi dưới, tắc mạch bạch huyết, loét chân do đái tháo đường. Huyết khối tĩnh mạch nông chi dưới Thường gặp sau tiêm truyền, hoặc ở người bị suy tĩnh mạch chi dưới. Vỡ kén Baker Sưng, đau đột ngột 1 bên bắp chân. Tụ máu trong cơ Thường gặp sau chấn thương, hoặc rối loạn đông máu do xơ gan, thuốc chống đông. Phù do thuốc
lPLE5N.
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Bùi Tiến Đạt - Khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Bệnh động mạch chi dưới mạn tính hay thiếu máu chi dưới mạn tính được gây ra bởi nhiều nguyên nhân, thường có tiến triển chậm trong suốt cuộc đời. Vậy bệnh động mạch chi dưới mạn tính là gì? Đối tượng nào có nguy cơ cao mắc bệnh? Thiếu máu chi dưới mạn tính là tình trạng các động mạch chủ và động mạch chi dưới bị hẹp lại, gây cản trở lưu thông máu đến các cơ và bộ phận liên quan khác như dây thần kinh, da... ở phía hạ lưu. Điều này dẫn đến sự chuyển hóa yếm khí và tăng sản sinh acid lactic, gây đau nhức khi gắng nhiên, càng về sau, người bệnh cũng có thể có cảm giác đau nhức chi dưới ngay cả khi đang nghỉ ngơi, kèm theo với đó là các dấu hiệu thiếu máu cục bộ như loét da, hoại tử... 2. Phân loại bệnh động mạch chi dưới mạn tính Hiện nay, dựa trên triệu chứng lâm sàng, bệnh động mạch chi dưới mạn tính có thể được chia thành 4 giai đoạn I có dấu hiệu mất mạch của một hay một số mạch tại chi dưới, tuy nhiên chưa có dấu hiệu cơ năng rõ đoạn II đau cách hồi khi gắng sức. Giai đoạn này có thể diễn tiến khác nhau tình trạng đau xuất hiện mỗi khi đi hơn 150m hoặc cơn đau xuất hiện khi đi được chưa đến đoạn III tình trạng đau diễn ra ngay cả khi nghỉ ngơi, đặc biệt là khi nằm, buộc bệnh nhân phải ngồi thông đoạn IV có một số biểu hiện rối loạn dinh dưỡng trên da, phía đầu chi bắt đầu có dấu hiệu hoại đoạn III và giai đoạn IV thường được gọi chung là giai đoạn “thiếu máu trầm trọng” với những dấu hiệu triệu chứng rất rõ nétCơn đau xuất hiện liên tục và thường xuyên, ngay cả khi đang nằm. Vì vậy, bệnh nhân thường xuyên phải sử dụng thuốc giảm chân bị loét và hoại bệnh nhân ở giai đoạn “thiếu máu trầm trọng” của bệnh động mạch chi dưới mạn tính đều có tiên lượng xấu. Có khoảng 20% bệnh nhân phải thực hiện cắt cụt chi và cũng có khoảng 20% trường hợp tử vong do bệnh. 3. Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính Dựa trên các thống kê về dịch tễ học, một số đối tượng sau có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tínhDưới 50 tuổi, có bệnh hoặc nguy cơ đái tháo đường và một số yếu tố khác như cao huyết áp, hút thuốc lá, tăng homocystein máu, rối loạn lipid máu;Người ở nhóm 50 – 69 tuổi, có tiền sử đái tháo đường hoặc hút thuốc lá;Người trên 70 tuổi;Người có các triệu chứng tại chi dưới có liên quan đến tình trạng gắng sức, đau khi nghỉ;Bệnh nhân có bất thường ở động mạch nuôi chi dưới;Bệnh nhân có các vấn đề động mạch do xơ vữa như xơ vữa ở động mạch vành, động mạch thận hoặc động mạch cảnh... Bệnh nhân xơ vữa động mạch vành có nguy cơ mắc bệnh động mạch chi dưới 4. Chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn tính như thế nào? Thiếu máu chi dưới mạn tính có thể được chẩn đoán dựa trên Dấu hiệu lâm sàng Thiếu máu chi dưới mạn tính có 5 kiểu biểu hiện lâm sàng chính, gồmKhông đau;Đau chân không điển hình;Đau cách hồi chi dưới;Thiếu máu nghiêm trọng chi dưới mãn tính;Thiếu máu chi dưới cấp tính. Đo chỉ số cổ chân – cánh tay khi nghỉ chỉ số ABI Các bệnh nhân bị nghi ngờ có bệnh động mạch chi dưới mạn tính thông qua các triệu chứng lâm sàng sẽ được đo chỉ số ABI khi nghỉ nhằm phát hiện bệnh chính xác đo lường chỉ số này thường được sử dụng để chẩn đoán các bệnh động mạch chi dưới và cần phải được đo ở cả 2 chân nhằm khẳng định chẩn quả đo ABI như sauĐộng mạch cứng khi ABI > thương nếu ABI trong khoảng từ 1 – nguy cơ mắc bệnh nếu ABI trong khoảng từ – bệnh nếu ABI nhỏ hơn Siêu âm Doppler động mạch Việc siêu âm Doppler cho giá trị ý nghĩa khi chẩn đoán các vị trí tổn thương và hỗ trợ đánh giá mức độ hẹp động mạch. Chụp cộng hưởng từ mạch MRA Thường được áp dụng để đánh giá độ hẹp động mạch. Chụp cắt lớp đa dãy động mạch CTA CTA sẽ được cân nhắc chỉ định nhằm chẩn đoán chính xác vị trí tổn thương trong giải phẫu cũng như xác định tình trạng hẹp khít của động mạch đối với bệnh động mạch chi dưới. 5. Hướng dẫn điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính Kiểm soát các yếu tố nguy cơ Bỏ thuốc lá là một chỉ định bắt buộc đối với bệnh nhân bị bệnh mạch máu nói trị chứng tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường nếu có, kiểm soát đường huyết và huyết áp ở mức ổn trị rối loạn lipid máu nếu hạn chế biến chứng loét da và các tổn thương trên chân, bệnh nhân nên sử dụng tất chân, điều trị sớm những tổn thương nếu xảy ra, hạn chế tiếp xúc với môi trường lạnh và không nên sử dụng thuốc gây co mạch. Bệnh nhân bắt buộc phải bó thuốc lá trong quá trình điều trị Thuốc điều trị Các nhóm thuốc được sử dụng để điều trị thiếu máu chi dưới mạn tính bao gồmThuốc chống ngưng tập tiểu cầu Plavix, Aspirin...Thuốc chống đông máu thuộc nhóm cải thiện tuần hoàn động mạch, cải thiện triệu chứng bệnh như Praxilene, Torental, Pletaal... Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật loại bỏ mảng xơ vữa động mạch và dùng mạch nhân tạo để mở rộng động mạch tại vị trí bị xơ vữa;Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch;Cắt cụt chi trong trường hợp chi có dấu hiệu hoại động mạch chi dưới mạn tính là một bệnh lý tiến triển dai dẳng và theo từng giai đoạn. Vì vậy, bệnh nhân khi có dấu hiệu cần phải được kiểm tra sớm để kiểm soát các yếu tố làm tăng tiến triển của bệnh, giảm thiểu biến chứng do tắc động mạch. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Quy trình chụp cộng hưởng từ động mạch chi dưới không tiêm thuốc đối quang từ Giải phẫu mạch máu chi dưới Quy trình chụp cộng hưởng từ động mạch chi dưới có tiêm thuốc đối quang từ Dịch vụ từ Vinmec
Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, thuật ngữ chuyên môn gọi là huyết khối tĩnh mạch chi dưới, là tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới, vị trí thường ở các tĩnh mạch sâu vùng cẳng chân, vùng đùi, khoeo, tĩnh mạch chậu do sự hình thành cục máu đông gây lấp lòng mạch. Minh họa hình ảnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới là một bệnh lý nguy hiểm vì triệu chứng có thể gây nhầm lẫn hoặc bỏ sót, dẫn đến chẩn đoán và điều trị muộn, tạo điều kiện cho cục máu đông di chuyển về tim, lên động mạch phổi gây thuyên tắc phổi. Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 50,000 bệnh nhân tử vong do thuyên tắc phổi. Có tới 10% bệnh nhân tử vong trong bệnh viện liên quan đến thuyên tắc phổi. Về lâu dài, viêm tắc tĩnh mạch sâu có thể phá huỷ các van tĩnh mạch, gây ra các hậu quả như phù, loét chi dưới… gọi là bệnh lý hậu huyết khối tĩnh mạch, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. 60% bệnh nhân viêm tắc TM chi dưới có thể bị bệnh lý hậu huyết khối này, nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách. Khi cục máu đông gây lấp lòng tĩnh mạch, sẽ cản trở máu từ chi dưới trở về tim. Từ đó gây ra tình trạng ứ trệ trong lòng mạch, thoát dịch ra ngoài lòng mạch, giải phóng các yếu tố viêm. Bên chân bị tắc sẽ có hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau, khi sờ vào thấy cảm giác căng, tăng trương lực cơ, so với chân bên lành. Tuy nhiên, giai đoạn đầu của bệnh sẽ rất khó phát hiện vì biểu hiện sưng đau đều kín đáo. Vì vậy, để chẩn đoán sớm huyết khối tĩnh mạch chi dưới, cần chú ý phát hiện Dấu hiệu Homans là dấu hiệu sớm phát hiện viêm tắc tĩnh mạch bệnh nhân đau khi hơi gấp mu bàn chân. Các yếu tố nguy cơ, hay hoàn cảnh thuận lợi dẫn đến sự hình thành huyết khối tĩnh mạch. Đau khi hơi gấp mua bàn chân có thể gợi ý bệnh lý viêm tắc tĩnh mạch chi dấu hiệu Homans Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây ra viêm tắc tĩnh mạch Sự hình thành huyết khối trong lòng tĩnh mạch thường do nhiều yếu tố phối hợp, trong đó 3 yếu tố chính được Virchow mô tả là tình trạng tăng đông, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và sự tổn thương của nội mạc thành tĩnh mạch. Các yếu tố thuận lợi của bệnh viêm tắc tĩnh mạch Tuổi tuổi càng cao, càng dễ bị huyết khối tĩnh mạch. Béo phì. Giãn và suy tĩnh mạch chi dưới. Bất động kéo dài, nằm nhiều, ít đi lại. Tiêm chích ma tuý. Sau dùng một số thuốc như thuốc tránh thai, thuốc điều trị ung thư… Nguyên nhân ngoại khoa Các phẫu thuật chấn thương chỉnh hình chi dưới như thay khớp háng, khớp gối…, các phẫu thuật vùng ổ bụng, tiểu khung là những phẫu thuật có nguy cơ cao bị viêm tắc huyết khối tĩnh mạch. Nguyên nhân sản khoa viêm tắc huyết khối tĩnh mạch dễ xảy ra ở phụ nữ mang thai do thay đổi hormone, hoặc do thai lớn chèn ép vào tĩnh mạch, sau nạo phá thai, sau mổ, sau đẻ do kiêng khem, bất động quá mức. Nguyên nhân nội khoa bệnh nhân nằm điều trị trong khoa hồi sức tích cực, suy tim nặng, đợt cấp của bệnh phổi mạn tính, tai biến mạch máu não, nhiễm trùng nặng, ung thư … phải bất động kéo dài, là những nguyên nhân dễ dẫn đến hình thành huyết khối tĩnh mạch. Bệnh lý tăng đông máu có thể là bẩm sinh do thiếu hụt một số yếu tố dẫn đến tình trạng tăng đông như thiếu hụt protein C, protein S, antithrombin III, yếu tố V Leyden… hoặc mắc phải như trong hội chứng kháng phospholipid, hội chứng thận hư, xơ gan… Sau giai đoạn mang thai phụ nữ có nguy cơ cao mắc viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Chẩn đoán bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Biểu hiện lâm sàng tại chân bị huyết khối tĩnh mạch là các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau, tăng trương lực cơ. Tuy nhiên, vì triệu chứng có thể không rõ ràng, cần đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh thuận lợi làm tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch chi dưới. Cần phân biệt viêm tắc tĩnh mạch chi dưới với một số nguyên nhân khác cũng làm chân sưng to, đau Tụ máu trong cơ thường xuất hiện sau chấn thương Vỡ kén hoạt dịch sau khoeo chân thường ở bệnh nhân có tuổi, thoái hoá khớp. Chẩn đoán chính xác cục máu đông trong lòng tĩnh mạch khá đơn giản. Chỉ cần sử dụng một máy siêu âm có thể dễ dàng phát hiện cục máu đông trong lòng tĩnh mạch chi dưới, làm tĩnh mạch ấn không xẹp. Việc chẩn đoán sâu hơn, ví dụ tìm nguyên nhân bẩm sinh do rối loạn đông máu, hoặc nguyên nhân khác ung thư, bệnh mạn tính, hay chẩn đoán biến chứng thuyên tắc phổi, thường đòi hỏi được thực hiện ở cơ sở chuyên khoa tim mạch, có sẵn các thăm dò cận lâm sàng cần thiết phục vụ chẩn đoán. Điều trị bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Mục tiêu hàng đầu của điều trị viêm tắc tĩnh mạch là ngăn ngừa sự lan lên của cục máu đông, để ngăn chặn biến cố thuyên tắc mạch phổi. Mục tiêu lâu dài là tránh nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch chi dưới, giảm tối đa nguy cơ bệnh lý suy tĩnh mạch sâu hậu huyết khối. Các biện pháp được sử dụng bao gồm. Thuốc chống đông Có hai loại Thuốc chống đông đường truyền tĩnh mạch hay tiêm dưới da, là heparin và heparin trọng lượng phân tử thấp. Heparrin TLPT thấp được sử dụng phổ biến hơn, trong môi trường bệnh viện hoặc tại nhà với một số bệnh nhân thuốc được tiêm dưới da bụng, do nhân viên y tế hoặc người nhà bệnh nhân đã được huấn luyện thực hiện, trong vòng 5 – 7 ngày, và gối với một thuốc chống đông đường uống gọi là kháng vitamin K, dùng lâu dài. Băng chun áp lực hay tất áp lực y tế Có tính đàn hồi cao và áp lực từ 20 – 30 mmHg khi đeo, giúp duy trì một áp lực thường xuyên lên tĩnh mạch chi dưới, một mặt góp phần làm ly giải cục máu đông, giảm nguy cơ di chuyển của cục máu đông, mặt khác, ngăn ngừa biến chứng suy tĩnh mạch mạn tính. Chế độ vận động, dinh dưỡng Thông thường bệnh nhân viêm tắc tĩnh mạch chi dưới khi mới điều trị được yêu cầu nằm tại giường, nhưng chỉ sau 24 – 48 giờ và được đeo tất hay băng áp lực, bệnh nhân được khuyến cáo dậy đi lại nhẹ nhàng. Về dinh dưỡng, người bệnh thường được khuyên tránh các thức ăn có thể gây táo bón. Điều quan trọng là chế độ ăn phù hợp với chế độ điều trị thuốc chống đông, hạn chế các thức ăn có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả của việc dùng thuốc. Trong thời gian dùng thuốc chống đông, người bệnh được khuyên tránh các hoạt động thể lực mạnh, có nguy cơ gây chảy máu, tránh sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm không steroid, aspirin, thuốc đông y do làm tăng nguy cơ chảy máu. Thuốc chống đông máu được chỉ định trong trường hợp viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Thời gian điều trị Trong thời gian điều trị thuốc chống đông đường tiêm, bệnh nhân sẽ phải nằm viện, trung bình 7 – 10 ngày, nếu như không có biến chứng thuyên tắc phổi. Khi chuyển sang thuốc chống đông đường uống, bệnh nhân sẽ được theo dõi và điều trị ngoại trú. Hiệu quả điều trị thuốc chống đông kháng vitamin K đường uống được đánh giá dựa vào chỉ số INR, yêu cầu chỉ số này từ 2 – 3. Thông thường INR được xét nghiệm mỗi tháng 1 lần. INR dưới 2 chứng tỏ thuốc chống đông không có hiệu quả, INR trên 3 chỉ ra sự quá liều thuốc, có nguy cơ gây biến chứng chảy máu. Thời gian điều trị thuốc phụ thuộc vào nguyên nhân, tối thiểu là 3 tháng nếu viêm tắc tĩnh mạch có yếu tố nguy cơ rõ ràng và tạm thời, trên 12 tháng, thậm chí cả đời, nếu không rõ nguyên nhân, viêm tắc tĩnh mạch tái phát, hoặc do nguyên nhân rối loạn đông máu. Thời gian đeo tất hay băng áp lực được khuyến cáo tổi thiểu là 2 năm, tốt nhất là kéo dài, để tránh nguy cơ suy tĩnh mạch. Phòng tránh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Những người có nguy cơ cao bị viêm tắc tĩnh mạch như sau phẫu thuật vùng tiểu khung, chấn thương chỉnh hình …, bị các bệnh lý nội khoa nặng nề buộc phải nằm bất động kéo dài … có chỉ định dùng thuốc chống đông dự phòng. Gia đình của họ đươc khuyên phải thường xuyên thay đổi tư thế, xoa bóp chân, có thể đeo tất áp lực dự phòng huyết khối ở chân cho bệnh nhân. Phụ nữ có chỉ định điều trị hormone, dùng thuốc tránh thai, cần tham khảo bác sĩ điều trị và khám định kỳ. Phụ nữ có thai đặc biệt ở những tháng cuối, được khuyên mang tất áp lực, gác cao chân để tránh ứ trệ tuần hoàn. Sau đẻ, sau mổ nên dậy vận động sớm, xoa bóp chân tay, tránh nằm một chỗ. Người béo phì, có lối sống tĩnh tại được tư vấn giảm cân, tăng cường tập thể dục thể thao để cải thiện hoạt động bơm của cơ. Khi đi ô tô, máy bay đường dài, để tránh nguy cơ tắc tĩnh mạch, nên uống nhiều nước, co duỗi chân tay, đứng dậy đi lại sau mỗi 1 – 2 tiếng nếu có thể, ngoài ra, có thể đeo tất áp lực phòng chống tắc mạch. CNTTCBTG – BV Bạch Mai
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Bùi Tiến Đạt - Khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Tắc động mạch chủ chậu mạn tính chủ yếu do xơ vữa động mạch gây nên. Nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị tích cực trong giai đoạn đầu, tắc động mạch chủ chậu mãn tính có thể gây hoại tử chi cùng nhiều tai biến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh. Tắc động mạch chủ chậu mạn tính là tình trạng tắc động mạch chủ bụng dưới động mạch thận mạn tính hoặc tắc động mạch chậu mạn nhân gây tắc động mạch chủ chậu mạn tính chủ yếu là do xơ vữa động mạch. Các yếu tố nguy cơ chính của xơ vữa động mạch là hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, tăng homocystein máu. Ngoài ra, các nguyên nhân thường gặp khác của tắc động mạch chủ chậu mạn tính là viêm xơ hóa và bệnh Takayasu. 2. Biến chứng tắc động mạch chủ chậu mạn tính Tắc động mạch chủ chậu mạn tính nếu không được can thiệp kịp thời sẽ gây nhiều hậu quả nặng nề cho người bệnh. Trong đó, thiếu máu chi dưới là tai biến thường gặp nhất. Tắc động mạch chủ chậu mãn tính gây thiếu máu chi dưới Thiếu máu chi dưới có thể làm các chi bị hoại tử, người bệnh bị giảm khả năng đi lại, giảm khả năng lao động, thậm chí trở thành tàn phế, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bệnh nhân bị cắt cụt chi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể lực mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần. Các nghiên cứu đã chỉ ra, bệnh nhân tắc động mạch chậu mạn tính không tử vong trực tiếp do thiếu máu chi tuy nhiên lại tử vong do các bệnh lý tim mạch phối hợp. 3. Chẩn đoán tắc động mạch chủ chậu mạn tính Các triệu chứng thường gặp của bệnh tắc động mạch chủ chậu mạn tính làĐau cách hồi là triệu chứng điển hình, thường gặp nhất trong giai đoạn sớm của bệnh. Đau cách hồi là cảm giác đau co rút cơ, xuất hiện khi gắng sức, sau khi đi được một quãng đường nhất định và hết đau khi dừng lại. Cơn đau xuất hiện trở lại khi đi cùng một khoảng cách với cùng một mức gắng chi dưới khi nằm, thường xuất hiện về đêm. Bệnh nhân có cảm giác đau rát nhưng cũng có thể tê bì, lạnh chi. Các triệu chứng cải thiện khi để thõng chân hoặc đứng chi bị thiếu máu mạn tính có các dấu hiệu như da và cơ bị teo, lông rụng, móng khô giòn, dễ gãy, mạch giảm hay mất, nhiệt độ bề mặt thấp hơn bên chi đối diện, đầu các ngón bị tím hay hoại tử, hình thành các ổ loét ở phần xa của chi. Đầu các ngón chân chi thiếu máu sẽ bị tím tái và hoại tử Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân đau chi dưới kể cả khi nghỉ ngơi hoặc có vết thương loét, không liền, hoại lực, giảm chức năng sinh lý, teo cơ mông có thể gặp khi tắc các mạch máu đến nuôi dưỡng các bộ phận phương tiện chẩn đoán hình ảnh có thể sử dụng để chẩn đoán bệnh, xác định vị trí động mạch tắc là siêu âm Doppler, chụp CT đa lớp cắt, chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp X-quang động mạch. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ cho phép đánh giá vị trí của động mạch bị tổn thương, mức độ lan tỏa của tổn thương, sự phát triển của tuần hoàn bàng hệ thay thế, đặc điểm của giường động mạch phía hạ lưu,... Kết quả chẩn đoán hình ảnh là cơ sở quan trọng để bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị. 4. Phẫu thuật điều trị tắc động mạch chủ chậu mạn tính Ở các bệnh nhân đau cách hồi không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc các bệnh nhân thiếu máu chi trầm trọng, có thể được chỉ định phẫu thuật nhằm giảm triệu chứng, giảm đau, lành các ổ loét/ hoại tử, bảo tồn chi thiếu máu, kéo dài và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật để bảo tồn chi thiếu máu Các can thiệp ngoại khoa có thể được thực hiện làPhẫu thuật loại bỏ mảng xơ vữa trong lòng động mạch Sau đó dùng một miếng vá tĩnh mạch hoặc mạch nhân tạo mở rộng lòng động mạch tại vị trí bóc mảng xơ thuật bắc cầu nối động mạch Sử dụng cầu nối bằng tĩnh mạch hiển hoặc đoạn mạch nhân tạo. Các phẫu thuật bắc cầu nối động mạch thường được thực hiện là Cầu nối động mạch chậu- đùi, cầu nối động mạch chủ bụng- chậu hai bên, cầu nối chủ ngực- đùi hai bên, cầu nối động mạch nách- đùi, cầu nối động mạch chéo bên đùi- đùi,...Nong vị trí động mạch bị hẹp bằng bóng, có thể kèm theo đặt stent hoặc cụt chi được chỉ định khi tắc động mạch chủ chậu mạn tính giai đoạn nặng có hoại tử đầu chi hoặc kết quả can thiệp, phẫu thuật thất bại. Cố gắn giữa lại phần tỳ đè của bàn chân hoặc tối thiểu là khớp gối để làm mỏm cụt cho phục hồi chức năng. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Chẩn đoán và điều trị tắc động mạch chủ chậu mạn tính Đặc điểm sinh lý của mạch máu ARSA được xác định trên siêu âm thai như thế nào? Dịch vụ từ Vinmec
II. Triệu chứng lâm sàngBiến chứng Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới là gì ? Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới một bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm trong các bức tường của các tĩnh mạch ở hiện diện huyết khối. Các viêm nhiễm, trong mức độ khác nhau. Có thể tham gia các mô mạch máu xung tắc tĩnh mạch chi không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và cản trở sinh trị bệnh này ngoài dùng thuốc cần kết hợp với thay đổi lối sống chế độ vận động dinh dưỡng cần luyện tập thói quen đeo băng chun áp lực . Trên lâm sàng thường kết hợp điều trị cả đông và tây y để nâng cao thể trạng bệnh nhân. Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Định nghĩa Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới còn gọi là huyết khối tĩnh mạch chi dưới. Là tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới, vị trí thường ở các tĩnh mạch sâu vùng cẳng chân, vùng đùi, khoeo, tĩnh mạch chậu do sự hình thành cục máu đông gây lấp lòng mạch. Nguyên nhân Bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi chưa được xác định rõ ràng nguyên nhân. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên đã được xác nhận như Quá trình thoái hóa do tuổi tác, do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, Ít vận động, phải mang vác nặng , người béo phì, … Các nguyên nhân trên đã tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân. Làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân; Các yếu tố nguy cơ như chế độ làm việc phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp, béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin.. Chẩn đoán chung Biểu hiện lâm sàng tại chân bị huyết khối tĩnh mạch là các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau, tăng trương lực cơ. Tuy nhiên, vì triệu chứng có thể không rõ ràng, cần đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh thuận lợi làm tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch chi dưới. Cần phân biệt viêm tắc tĩnh mạch chi dưới với một số nguyên nhân khác cũng làm chân sưng to, đau – Tụ máu trong cơ thường xuất hiện sau chấn thương – Vỡ kén hoạt dịch sau khoeo chân thường ở bệnh nhân có tuổi, thoái hoá khớp. Chẩn đoán chính xác cục máu đông trong lòng tĩnh mạch khá đơn giản. Chỉ cần sử dụng một máy siêu âm có thể dễ dàng phát hiện cục máu đông trong lòng tĩnh mạch chi dưới, làm tĩnh mạch ấn không xẹp. Việc chẩn đoán sâu hơn, ví dụ tìm nguyên nhân bẩm sinh do rối loạn đông máu, hoặc nguyên nhân khác ung thư, bệnh mạn tính, hay chẩn đoán biến chứng thuyên tắc phổi, thường đòi hỏi được thực hiện ở cơ sở chuyên khoa tim mạch, có sẵn các thăm dò cận lâm sàng cần thiết phục vụ chẩn đoán. II. Triệu chứng lâm sàng a. Triệu chứng cơ năng – Đau tức 1 2 chân, cảm giác chuột rút. – Nặng 2 chân sau khi nằm, đứng, ngồi lâu mất hoặc giảm đi khi bệnh nhân đi lại – Đau nhiều khi có viêm tắc tĩnh mạch kèm theo. b. Triệu chứng toàn thân – Có hội chứng nhiễm trùng nếu có viêm tắc tĩnh mạch. – Bệnh lý tim mạch, hô hấp kèm theo c. Triệu chứng thực thể – Chi dưới nổi các búi tĩnh mạch. – Đám xuất huyết trên da. – Vết loét . – Sờ các tĩnh mạch, thấy tĩnh mạch sơ xơ cứng. – Khám các cơ quan khác Tim mạch, hô hấp, tiêu hóa,… – Nghiệm pháp Schwarz, ho,Trendelenburg và nghiệm pháp Perthe. Xét nghiệm lâm sàng Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới + Đo áp lực tĩnh mạch sâu chi dưới – Bình thường 9/10 lượng máu về của chân là nhờ các tĩnh mạch sâu. Hoạt động của các tĩnh mạch sâu này lại chịu ảnh hưởng rất lớn của vận động các cơ ở co bóp,các cơ này tạo nên áp lực đẩy máu về tim và hút máu từ hệ tĩnh mạch nông vào hệ tĩnh mạch sâu. + Chụp tĩnh mạch chi dưới – Có thể xác định được hình thái,vị trí,mức độ các tĩnh mạch giãn. Đặc biệt có thể xác định được vị trí các chỗ tắc hoặc nghẽn của tĩnh mạch. + Phương pháp đo sự thay đổi thể tích Plethysmography Có nhiều phương pháp đo sự thay đổi thể tích được áp dụng trong chẩn đoán bệnh giãn tĩnh mạch nông chi dưới – Phương pháp đo thay đổi thể tích tĩnh mạch vì lưu lượng của dòng máu tĩnh mạch tỉ lệ nghịch với sức cản của tĩnh mạch. Do đó có thể đánh giá được mức độ tắc tĩnh mạch bằng việc đo mức độ thay đổi thể tích của tĩnh mạch cẳng chân ở các thời điểm trước và sau bỏ ép tĩnh mạch ở gốc đùi. – Phương pháp đo thay đổi thể tích cẳng chân khi vận động,các cơ co bóp có tác dụng như một bơm hút làm tăng lưu lượng máu tĩnh mạch về tim và do đó làm giảm thể tích cẳng ngừng vận động,nếu van tĩnh mạch bị suy thì dòng máu tĩnh mạch trào ngược sẽ nhanh chóng làm tăng thể tích chung của cẳng đó,việc đo tốc độ thay đổi thể tích cẳng chân trước và sau vận động sẽ đánh giá được mức độ suy của van tĩnh mạch. + Phương pháp chụp siêu âm Doppler kép -Đây là phương pháp kết hợp chụp siêu âm Doppler và chụp siêu âm. Hình chụp siêu âm cho phép thấy được các mạch máu nằm ở dưới. Nhờ đó có thể định vị chính xác các tĩnh mạch để dùng xung siêu âm Doppler. Dánh giá dòng máu của các tĩnh mạch đó. Hiện nay đây là phương pháp có giá trị chính xác nhất để đánh giá tình trạng suy chức năng tĩnh mạch thông qua tốc độ dòng máu tĩnh mạch trào ngược. Nếu không được điều trị tốt,bệnh có thể gây ra các biến chứng sau + Thiểu dưỡng chân bị giãn tĩnh mạch nông dẫn tới viêm da,loét,nhiễm trùng,chảy máu tại ổ loét…làm mất khả năng lao động của bệnh nhân,thậm chí có khi phải cắt cụt chân. + Viêm nghẽn các Tĩnh mạch sâu do hậu quả của loét thiểu dưỡng và nhiễm trùng ổ loét ở chân. Làm cho bệnh diễn biến nặng hơn. Có trường hợp tạo nên cục tắc di chuyển lên gây tắc động mạch phôỉ dẫn tới tử vong đột ngột. Bệnh nhân sẽ được thăm khám lâm sàng, siêu âm doppler mạch máu… các chuyên gia sẽ lựa chọn ra phương pháp điều trị thích hợp cho người bệnh. Kết hợp với các phương pháp chữa bệnh, phòng bệnh – chữa bệnh trong gian đoạn mới bắt đầu của bệnh → Điều trị bằng MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU SUY GIÃN TĨNH MẠCH phương pháp tiết kiệm chi phí vô cũng hữu ích cho người bệnh đó là điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch bằng MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU SUY GIÃN TĨNH MẠCH Máy nén ép trị liệu suy giãn tĩnh mạch có công dụng co bóp tạo áp lực bằng hơi lên các mạch máu bị tắc ngẽn. Mạch máu bị cứng, bị phình to , bị tê buốt. Làm cho các tĩnh mạch hoạt động, giúp bơm lượng máu bị đọng lại ở phần dưới di chuyển đi khắp cơ thể tạo thành tuần hoàn máu lưu thông kinh mạch rất tốt cho cơ thể. Ngoài ra máy nén ép trị liệu còn có chức năng xoa bóp. Mát xa tạo cảm giác êm ái thư dãn khi bị nhức mỏi. Hệ thống nén ép trị liệu WonJin Mulsan. Bao gồm những túi khí được sử dụng để tạo áp lực truyền từ máy nén khí. Giúp xoa bóp lên vùng eo, tay hoặc chân. Có các chế độ xoa bóp liên tục và ngắt quẵng, có thể tùy chọn khoang xoa bóp theo yêu cầu điều trị. Áp lực khí gây tác động vào các mạch huyết giúp máu lưu thông đi khắp cơ thể. Từ đó giám thiểu triệu chứng phù nề bạch huyết. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để nhận được tư vấn tận tình nhất!!! CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ Y KHOA MDT
tắc động mạch chi dưới