Sao Tuần Không. Đặc Tính: Sự trắc trở, dai dẳng, xoay trở bao giờ cũng chậm chạp. Phụ Tinh. Tên gọi đầy đủ là Tuần Trung Không Vong. Một trong 4 sao của bộ Tứ Không là Thiên Không, Địa Không, Tuần Không, Triệt Không. Tuổi trẻ lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm. Có
Cung Phu thê an tại Dậu có các sao Triệt,Tuần. Nên muộn lập gia đình hay đi xa mà thành hôn phối, may ra mới tránh được hình khắc, thường ít nhất cũng phải hai ba độ buồn thương chia cách. Tử vi đẩu số tân biên - Vân Đằng Thái Thứ Lang
Sao thứ 7 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Các Cách Cục; Tuần – Triệt; Chính Tinh; Vô Chính Diệu; Phụ Tinh
Tuần Triệt là những bộ sao cuối cùng trong khoa tử vi do Quảng Nguyên biên soạn. Sao Tuần Và Triệt rất khó hiểu với nhiều người, tuy nhiên qua bài viết dưới đây của chúng tôi, các bạn sẽ có cái nhìn đa chiều và dễ hiểu hơn rất nhiều. Cách an sao Tuần – Triệt:
Bài 2: Trong bài thơ trên, những sự vật được nhân hóa là:.. Chị mây vừa kéo đến Trăng sao trốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!. Mưa!
Một trong 4 sao của bộ Tứ Không là Thiên Không, Địa Không, Tuần Không, Triệt Không. Ý Nghĩa Của Tuần Triệt Tác dụng của Tuần, Triệt có tính cách toàn diện, không có biệt lệ, tức là hai sao này chi phối tất cả các sao đồng cung và tất cả các cung có Tuần, Triệt án ngữ
bjeUmch. Có 3 cách hóa giải Tuần Triệt dựa trên nguyên lý hình thành của nó. a. Động cung xung chiếu. Sao tốt gặp Tuần Triệt là đáng được thuận lợi, tự do mà lại bị kìm hãm, vô hiệu hóa, nên xấu. Vậy dùng cách động cung xung chiếu, đó là phá cửa nhà tù mà ra. Dùng cây gỗ lớn tông thẳng vào cửa mà phá xích. Dùng quân tinh nhuệ, lính đánh thuê tập kích phá tung tường bao, giải thoát tù nhân, thả hổ về rừng. Với Tuần là kích tung lên cho mất cái trì trệ, chậm chạp. Đó là làm con đường xuyên qua vùng đất lạc hậu để nó phát triển đi lên. Con đường càng đâm thẳng vào vùng đất đó, càng đi xuyên qua vùng đất đó càng lợi, nên động cung xung chiếu là đắc cách. b. Chủ động tạo sự ngăn cách. Cách này tạo ra cái giống Tuần Triệt để giảm tác dụng của nó. Vì Tuần Triệt là vùng đất có qui chế đặc biệt, là chỗ xa xôi, là nơi ngăn cách, nên đi xa là một cách tạo hiệu ứng tương tự. Đi đến vùng đất lạ, đi xa hẳn nơi sinh là cách giải rất tốt. Hoặc chủ động tạo ra sự riêng biệt, tự tách riêng ra. Tự áp đặt cho mình qui chế đặc biệt, không cần cái ngoại lực nào nữa. Đó là khi ở cùng nhà mà tách hộ ăn riêng, làm cùng chỗ mà chia tách riêng các bộ phận. Để Tuần Triệt ứng vào ngăn cách, chia lìa. c. Dùng sao Tử vi Đây là một cách giải hết sức hữu hiệu, rất đặc biệt. Vua có thể ra lệnh biến vùng đất xa xôi nào đó thành thị xã, thành phố, xóa cái lạc hậu chậm tiến đi. Vua có thể can thiệp để ân xá, giảm án cho tù nhân nên Tử vi có thể giải cái hung của Tuần Triệt. Đây là một kết quả cực kỳ quan trọng trong ứng dụng. Tử vi ở đâu, nếu dụng được cung đó thì sẽ làm Tuần Triệt nhẹ đi nhiều. Hạn đến Tử vi sẽ xảy ra hiệu ứng bung Tuần Triệt ở cung bị cùm khóa, như vua lên ngôi đại xá thiên hạ, nhà tù mở cửa giải thoát. Mệnh Thân có Tử vi thì Tuần Triệt tại đâu cũng nhẹ đi nhiều rồi, tức tự mình có quyền tha giết, bắt bớ, nên không sợ Tuần Triệt. Hạn đến Mệnh hoặc xung Mệnh thì sự bung vỡ rất rõ. Mệnh Thân bị Tuần Triệt, trong các cung xung chiếu, tam hợp chiếu có Tử vi mà dụng được cung đó là coi như đã được giải nhiều rồi. Điều này rất ứng nghiệm, có giá trị cao trong giải đoán. Tử vi là vua nên dù bị Tuần Triệt đóng tại bản cung vẫn có tác dụng. Thường chỉ ứng là có giám sát chặt chẽ, có xa cách như di chuyển, thay đổi, không bị trì trệ quá đáng, không thể bị vô hiệu hóa. Tử vi nắm quyền tha giết, Tuần Triệt phải ở trong tay nó. Động cung có Tử vi có thể làm nhẹ Tuần Triệt. Có gia đình bố mẹ già con cái đùn đẩy không ai muốn phục vụ. Một người con dù vai thấp nhưng đón về nuôi. Người đó Mệnh bị Triệt, có Tử vi ở cung Phụ mẫu, vậy là đã vô tình rước vua vào nhà để giải Triệt. Cuộc sống từ đó liên tục phát tài, có may phúc rất khó hiểu. Một ví dụ khác là như nàng Kiều bị cùm khóa nơi đất thấp, gặp Từ Hải là phá tung xiềng xích, trở nên khác hẳn. Thuyền quyên ví biết anh hùng Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi! Câu trên thực ra là của Sở Khanh hót để khoe khoang với Kiều, nhưng nó lại ứng việc Từ Hải là Tử vi dễ dàng giải thoát Kiều khỏi lầu xanh. Khi Từ Hải chết rồi thì Kiều rơi trở lại đất thấp…
Trong Tử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng của các sao, người luận giải thường lúng túng khi gặp 2 sao Tuần - Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhất về ngũ hành và cường độ, thời gian ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phải lưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời kết luận trong nhiều trường hợp. Dù sao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng trong các sao của Tử Vi vì Triệt - Tuần không chỉ chi phối các cung mà còn chi phối các sao, biến tốt thành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu... nên Triệt - Tuần cần được cân nhắc cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải. Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần Quan điểm thứ nhất cho rằng Triệt hành Kim đới Thủy, Tuần hành Hỏa đới Mộc Quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ. Quan điểm thứ ba cho rằng Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy. Quan điểm thứ tư cho rằng Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ. Trong 4 quan điểm trên thì phần nhiều người xem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó là quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quan điểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn nhất là quan điểm thứ tư. Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày sơ lược một số điểm về Triệt - Tuần mà người học Tử Vi cần lưu ý. 1. ẢNH HƯỞNG CHUNG CỦA TUẦN - TRIỆT Tuần Triệt án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc được ước lượng như sau Người Dương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ. Người Âm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ. Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận chặn đuôi. Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu, sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất. Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổi sẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khi Triệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất. Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt tạm sắp xếp theo thời gian như sau Dưới khoảng 30 tuổi 1. Triệt đương đầu Mạnh nhất 2. Triệt chặn đuôi Mạnh nhì 3. Tuần đương đầu Yếu nhì 4. Tuần chặn đuôi Yếu nhất Trên khoảng 30 tuổi 1. Tuần đương đầu Mạnh nhất 2. Tuần chặn đuôi Mạnh nhì 3. Triệt đương đầu Yếu nhì 4. Triệt chặn đuôi Yếu nhất Trong từng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1 tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng của Triệt giảm đáng kể. 2. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN - TRIỆT VỚI CÁC CUNG Thông thường khi đóng tại cung nào thì Tuần - Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô chính Diệu trong trường hợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coi các sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt - Tuần người coi số cũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số. MỆNH Tuần - Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn, Tuần - Triệt đóng tại Thân cung an Thân thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần - Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thì tất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân. Nhìn chung khi Tuần - Triệt đóng tại Mệnh Thân thì đương số là người chật vật trong cuộc sống hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứng đáng..., hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn nhất là lá số có Tuần - Triệt liên cung tại Mệnh - Phụ Mẫu. Đồng thời đây cũng là mẫu người lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươn lên trong cuộc sống... nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu về Mệnh Thân hóa giải. QUAN Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường... Tùy theo bị chặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít. Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặp Tuần khá nhiều. TÀI BẠCH Tuần - Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không trừ khi vào đại vận tốt và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụ của các sao thế nào ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về thì Tuần - Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng định đương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ. THIÊN DI Tuần - Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không được lợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều. ĐIỀN TRẠCH Tuần - Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũng như cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương số không thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về. PHÚC ĐỨC Tuần - Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương PHU THÊ Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ... Nếu lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tố đưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụ nhiều sao xấu. Cung Phu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được với nhau đến đầu bạc răng long ... NÔ BỘC Tuần - Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việc trung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ. TỬ TỨC Tuần - Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề con cái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc con không hợp với cha mẹ… HUYNH ĐỆ Tuần - Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh chị trưởng nếu không đoản thọ thì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặc bất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau... TẬT ÁCH Tuần - Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thì đương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũng tránh được họa lớn... Trừ khi có sao kỵ Tuần - Triệt như Thiên Tướng, Tướng Quân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng. PHỤ MẪU Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do Hoặc cha mẹ mất sớm, hoặc cha mẹ ly hôn, hoặc làm con nuôi nhà khác... Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ còn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể. HẠN Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phải xét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thì phải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quan điểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này. 3. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN-TRIỆT TỚI CÁC SAO Theo lý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởng của các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng Tuần - Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm đi ảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần - Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuy nhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần - Triệt thì cũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần - Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm. Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứu Tử Vi. Có quan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồng cung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợp chiếu, như thế là không tưởng, phi lý đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc. Còn quan điểm thứ 2 đại diện là tác giả Việt Viêm Tử thì rộng hơn, cho rằng hai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnh hưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quan điểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông Nguyễn Phát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”, chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm Ông là nhà nghiên cứu, cũng là người hành nghề coi lá số Tử Vi nhận xét Triệt - Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệ thống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc Ảnh hưởng tới các cung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung mà Triệt - Tuần trấn thủ. Qua những tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lá số Tử Vi.. thì Triệt - Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung án ngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cung án ngữ. Cũng cần lưu ý thêm rằng Sao tại cung bị Tuần - Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần - Triệt án ngữ. Vì thế khi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hay Triệt và Triệt - Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi. Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thì các chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần - Triệt, trong đó Sát - Phá - Liêm - Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất. Về tính chất thì hung sát bại tinh như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát..., tài tinh Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc, quí tinh, quyền tinh Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn..., đào hoa tinh hay dâm tinh Hồng, Đào, Riêu, Thai... bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh Quang Quí, Quan Phúc..., trợ tinh Tả Hữu...lục bại tinh Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư Xét về phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần vì Triệt Kim khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh Tuần Hỏa và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt vì Tuần Hỏa khắc Kim trong khi đó Triệt Kim và Kim đồng hành, hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn vì Triệt Kim sinh Thủy và Thủy khắc Hỏa Tuần, hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất vì Tuần Hỏa sinh Thổ và Thổ sinh Kim Triệt. 4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA TUẦN-TRIỆT 1. Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần - Triệt vì gặp Tuần - Triệt làm cho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn như cung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợp Liêm - Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần - Triệt án ngữ lại trở nên tốt đẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rất cần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. Trường hợp này nếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ. Hoặc Cung gặp nhiều sát tinh hội chiếu nếu được Tuần - Triệt án ngữ sẽ trở thành yên ổn rất nhiều! 2. Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần - Triệt vì sẽ đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên. Chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần - Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí bị hãm và tương quan Ngũ hành bị khắc thì gặp Tuần, Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần, Triệt càng xấu. 3. Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần, Triệt cho dù là đắc địa hay hãm địa. 4. Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó. 5. Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng Tuần Triệt như sấm sét làm vỡ đá ra. Bộ Nhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần, Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt. Bộ Ân Quang Thiên Quý đồng cung Sửu, Mùi chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần, Triệt không còn tác dụng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể. 6. Tuần, Triệt đứng bất cứ đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại hành Hoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa. Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + Tuần Triệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộc Kim thì không đáng ngại những nguy hiểm do Tuần, Triệt gây ra. 7. Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng qua được. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng yếu hơn. Mệnh Thân có Không, Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy. 8. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởng của Tuần hay Triệt. Tuần, Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì ảnh hưởng của Tuần, Triệt đồng cung sẽ giảm đi. Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi. 5. NHỮNG CÂU PHÚ VỀ TUẦN - TRIỆT - Mệnh Triệt Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi. Có nghĩa Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên có chính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng và tăng thêm tuổi thọ. - Mệnh Tuần Thân Triệt, hỷ đắc vân đoàn tương hội, phú quý văn tài cách phát trung niên. Có nghĩa Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừng gặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy là người có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phú quý. - Mệnh Tuần Thân Triệt, tối cần Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương miếu vượng, phú quý vinh hoa đến vãn niên. Có nghĩa Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc đời mới được xứng ý toại lòng, nhất là khi về già mới được an nhàn, sung sướng. - Phúc vô chính diệu, tu cần Không tý, kỵ ngộ Triệt Tinh. Có nghĩa Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵ sao Triệt trấn đóng. - Phúc tại Tý cung. Đồng Âm Kiếp Tử, Triệt Tuần xâm, hữu học vô lương, tiện yểu cách. Có nghĩa Cung Phúc đức cư tại Tý, có các sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần, Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính, thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non. - Thân cư Phúc vô chính diệu, tối kỵ Kiếp Dương Triệt Sát. Cái ngộ Đà Không thi vị cứu cánh chi tinh. Có nghĩa Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp các sao Kiếp, Kình, Triệt, Sát thì rất lo ngại. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổ phò nguy, giải tỏa được các tai biến. - Tử Phủ đồng cung, Đế vô quyền sở, nan giải tai ương do như Tuần Không xâm nhập. Có nghĩa Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáo nhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hành nên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp Tử Vi đóng ở cung Tý vậy. - Sát tinh hung diệu, Triệt đầu cư lai bất cập a hành, nan phùng tai ách vận lai. Có nghĩa Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt án ngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnh hưởng khắc chế được mọi hung nguy. - Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược gia cát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân. Có nghĩa Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bị tình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũng được mãn kiếp xum vầy với người góa phụ. - Kiếp Kình Đế Cự suy Triệt lâm Mệnh, Tý hương, ác nhân đãng tử mãn kiếp nan toàn. Có nghĩa Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với các sao Kiếp, Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn nhưng khi chết rồi thể xác vẫn phải bị mổ xẻ. - Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu. Có nghĩa Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tất phải lận đận, bôn ba thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cát tinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạo thành cơ nghiệp. - Phản Hữu Hồng Loan sắc Không giác ngộ. Có nghĩa Thiên tướng nếu hội họp đầy đủ với 2 loại sao là sắc Đào, Hồng, Hỷ và Không Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không là người ví như kẻ lạc giữa bụi trần nhơ nhuốc mà tâm tư trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành. - Quý tinh Tướng Phủ Tuần Triệt lao đao. Có nghĩa Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũng không đáng lo ngại lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2 quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt Thiên Không, Địa Không cũng vậy thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời. - Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiến Tang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành. Có nghĩa Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảo toàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gối chiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất. - Nhật, Nguyệt Sửu Mùi tối cần Kỵ, Không phả vi đại cát. Có nghĩa Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được Không Vong Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêm cả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách. - Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ. Có nghĩa Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải tha hương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồi dào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ có thể thành cơ nghiệp nơi đất khách quê người. - Thìn Tuất Không Vong Cơ Lương tăng đạo. Có nghĩa Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trong các sao Không Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không thì lại là người thất chí, dễ chán đời đi tu. - Nhật Nguyệt Tật Ách Mệnh phùng Không yểu dà mục cổ. Có nghĩa Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không, tất phải mang tật lưng vẹo, mắt hư. 6. TUẦN - TRIỆT VÀ NHỮNG DẤU HỎI Khi coi số, người luận giải sợ nhất trường hợp các cung cường gặp Tuần, Triệt án ngữ bởi lẽ lý thuyết Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thống nhất thậm chí còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi gay gắt… để làm căn cứ cho việc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định. Vì thế, người học Tử Vi, người muốn tìm hiểu về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trường hợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi một số nghi vấn sau 1. Tuần, Triệt ảnh hưởng tới các sao như thế nào? Theo lý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung Biến tốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tế thì có những trường hợp chỉ chính tinh bị ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị tác động bởi Tuần, Triệt hoặc phụ tinh bị đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại không thay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số tinh đẩu bị đảo nghĩa chứ không hẳn tất cả các tinh đẩu đồng cung đều chịu sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt... Để trả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôi khi trở nên mơ hồ, võ đoán. Đấy là nói về các sao đồng cung, còn những sao ở tam hợp chiếu, xung chiếu thì sao? Về vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫn còn mơ hồ, không cụ thể. Quan điểm thứ nhất cho rằng Tuần, Triệt chỉ ảnh hưởng tới các sao đồng cung chứ không đủ sức để ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Quan điểm thứ hai cho rằng Tuần, Triệt không những ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung mà còn ảnh hưởng gián tiếp tới các sao ở các cung khác như xung chiếu, tam hợp chiếu... nhưng lại không chỉ ra sự ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thể như thế nào? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi. 2. Tuần, Triệt có chịu sự khắc chế, ảnh hưởng của các sao khác không? Lý thuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng hay khắc chế của các sao khác tới cường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình chung đã đẩy Tuần, Triệt lên vị trí tối quan trọng, cao hơn tất cả các tinh đẩu trong hệ thống các sao của Tử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắc khi đưa ra lời luận giải. Trong thực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau Có sao chịu ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng ít và thậm chí có sao không hề bị ảnh hưởng ... Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt đó? Phải chăng do Tuần, Triệt cũng chịu ảnh hưởng của các tinh đẩu khác mà sức ảnh hưởng của Tuần, Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh? Sách Tử Vi không đưa ra lời giải đáp khiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở lý thuyết nên dễ đưa ra những lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không chính xác. Một số nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt cũng chịu sự ảnh hưởng, tác động của các sao khác như những sao khác nhưng không chỉ ra được Tuần, Triệt chịu ảnh hưởng từ các sao khác như thế nào? Những sao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn tác động, làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộ nhận khi luận giải lá số. 3. Tuần, Triệt có làm thay đổi được cung an Mệnh khi ở thế bại địa, tuyệt địa? Chúng ta đều biết lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của các sao chứ không làm thay đổi tính chất của các sao, có nghĩa một sao thể hiện sự gian tà, độc ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà, độc ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không thể trở thành người nhân hậu, bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm cho cát tinh đó tốt hơn lên chứ không thể biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cát tinh khi đắc địa được. Chúng ta cũng biết lý thuyết Tử Vi chỉ rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở cho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không thể làm thay đổi tính chất ngũ hành của cung, càng không làm thay đổi bản chất của cung Sinh - khắc hay bình hoà với hành bản Mệnh Thân? Phù trợ như thế nào cho Mệnh Thân?... Nhưng khi coi số, nếu gặp trường hợp cung an Mệnh ở vào thế lợi địa, tuyệt địa…mà gặp Tuần, Triệt án ngữ ở đó thì luận giải sao đây? Không thể đưa ra lời khẳng định nếu cung an Mệnh ở thế lợi địa mà gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở thành bại địa, hoặc cung an Mệnh ở thế bại địa khi gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở nên vượng địa vì thực tế ngay cả các sao đồng cung Tuần, Triệt còn không đủ sức ảnh hưởng đồng đều thì làm sao ảnh hưởng, thay đổi tính chất lợi địa hay tuyệt địa của cung an Mệnh được. Hơn nữa, lý thuyết của Tử Vi về Tuần, Triệt cho rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở một phần, một giai đoạn cho cung án ngữ nên càng khó đưa ra lời luận giải cho những trường hợp như thế này. Đây chính là khó khăn và thách đố với những ai muốn tìm hiểu, ứng dụng kiến thức của Tử Vi vào cuộc sống. 4. Thời gian và cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào? Mặc dù lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần ảnh hưởng nhẹ hơn Triệt và mạnh dần ảnh hưởng sau 30 tuổi, còn Triệt ảnh hưởng mạnh những năm đầu đời và giảm dần hiệu lực sau 30 tuổi. Nhưng Tử Vi không chỉ ra sự mạnh dần Tuần hay giảm dần Triệt diến ra như thế nào? Cường độ nặng nhẹ là bao? Nên người coi số rất khó đưa ra lời phán đoán. Hơn nữa, những khái niệm về cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt tưởng như rất cụ thể mà lại rất mơ hồ, trừu tượng nên người coi số thật khó luận giải. Chẳng hạn, sách Tử Vi nói Người Dương nam, Dương nữ khi gặp Tuần, Triệt thì ở cung Dương sẽ chịu 70%, còn cung Âm chịu 30% cường độ, nhưng 100% cường độ được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng ra làm sao? Để qua đó hiểu được mức nặng nhẹ của 70% hoặc 30% cường độ thì rất tiếc không thấy sách Tử Vi nào đề cập đến. Hoặc bàn về sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới số phận con người cũng nhiều ý kiến trái chiều, bất nhất. Ví dụ ở người Mệnh Kim, có 3 quan điểm - Quan điểm 1 Mệnh Kim không sợ Tuần, Triệt. - Quan điểm 2 Mệnh Kim vô hại khi gặp Triệt, còn gặp Tuần thì vẫn bị ảnh hưởng như các tuổi khác, tuy nhiên cũng không đáng lo ngại lắm. - Quan điểm 3 Mệnh Kim nên tránh xa Tuần, Triệt vì nếu gặp sẽ thiệt thòi nặng hơn so với các tuổi khác. Trong 3 quan điểm trên thì phần lớn những người coi số Tử Vi đồng nhất với quan điểm thứ nhất Mệnh Kim không sợ gặp Tuần, Triệt nhưng sự bất nhất về lý thuyết, đặc biệt khi sự bất nhất đó lại có nội dung đối lập 100% như quan điểm 3 với quan điểm 1, thì vẫn gây khó khăn, nghi vấn cho người luận giải lá số. 5. Vấn đề Tuần, Triệt đồng cung thì thế nào? Đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi trong lý thuyết của khoa Tử Vi. Quan điểm thứ nhất cho rằng Tuần, Triệt đồng cung không tháo gỡ nhau mà cộng hưởng cả mặt tốt, mặt xấu và ảnh hưởng sâu rộng hơn tới cuộc đời của đương số. Quan điểm thứ hai lại cho Tuần, Triệt tháo gỡ nhau nếu khi đồng cung, làm giảm cái xấu và tăng cái tốt cho đương số. Mặc dù quan điểm thứ nhất là quan điểm của số đông, được nhiều người chấp nhận vì tính thực tiễn nhưng sự không đồng nhất về quan điểm như thế trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi sẽ gây khó khăn rất lớn cho người tiếp cận. LỜI KẾT Tuần - Triệt là hai sao còn rất nhiều nghi vấn về giá trị, phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới số phận con người mà người nghiên cứu Tử Vi khó tìm được câu trả lời thỏa đáng, càng đặc biệt và thách đố với những người muốn ứng dụng kiến thức Tử Vi vào cuộc sống. Khi biên soạn về ảnh hưởng của Tuần - Triệt tới lá số cung, sao, người viết rất băn khoăn, lo lắng vì kiến thức và kinh nghiệm về Tử Vi của người viết chỉ ở mức mày mò tự học trong khi môn học Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiến thức uyên bác về Dịch lý, về Âm - Dương Ngũ hành... mới có thể truyền tải được những cốt lõi mà linh hoạt và thỏa đáng về hiệu lực của Tuần, Triệt nên những kiến giải của người viết trong bài sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan và nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải “ngây ngô” của kẻ “ếch ngồi đáy giếng”... Dù thế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ít nhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinh tế, linh hoạt đến phức tạp... của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìm hiểu. Nếu được vậy, người viết mãn nguyện lắm rồi. trích trong cuốn TỬ VI kiến giải – Tác giả Đặng Xuân Xuyến Hà Nội Dẫn theo trang
Tam Nguyên An 2 sao Địa-kiếp, Địa-không Gọi tắt là KIẾP KHÔNG Theo giờ sinh Kiếp thuận , Không nghịch ĐỊA-KIẾP Kể cung Hợi là giờ Tý, tính thuận tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa kiếp tại cung ấy . ĐỊA-KHÔNG Kể cung Hợi là giờ Tý, tính nghịch tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa không tại cung ấy . Thí dụ Người sinh giờ Mão An Địa-kiếp tại cung Dần , an Địa-không tại cung Thân. THƠ Kiếp không khởi tự Hợi cung Không nghịch kiếp thuận , long hung tuỳ thời NHẬN XÉT ĐỂ GHI NHỚ 1 KIẾP KHÔNG ĐỒNG CUNG Sinh giờ Tý Kiếp Không đồng cung tại Hợi Sinh giờ Ngọ Kiếp Không đồng cung tại Tỵ 2 KIẾP KHÔNG GIÁP BIÊN Sinh giờ Sửu, giờ Hợi Kiếp Không giáp biên tại Hợi Sinh giờ Tỵ, giờ Mùi Kiếp Không giáp biên tại Tỵ 3 KIẾP KHÔNG CƯ 2 CUNG XUNG CHIẾU NHAU Sinh giờ Mão Kiếp an tại Dần. Và an Không tại Thân cung Sinh giờ Dậu an Địa-kiếp tại cung Thân Và an Địa-không tại cung Dần Tập bấm cung ở bàn tay 2 sao Địa-kiếp, Địa-không này , an theo giờ sinh , sẽ nhập tâm được sinh giờ nào , có cách đồng cung , giờ nào có cách giáp biên , và giờ nào sẽ cư cung xung chiếu nhau, để sau không phải tính tới Kiếp Không khi lấy số. An Mạnh-chủ Tuỳ theo năm sinh. Người sinh năm Tý an Mạnh chủ với Tham-lang Người sinh năm Sửu Hợi an Mạnh chủ với Cư-môn _ _ _ Dần Tuất_ _ _ _ Lộc-tồn _ _ _ Mão Dậu_ _ _ _ Văn-khúc Người sinh năm Ngọ an Mạnh chủ với Phá-quân _ _ _ Thân Thìn an Mạnh chủ với Liêm -trinh _ _ _ Mùi Tỵ _ _ _ _ Vũ-khúc An Thân- chủ Người sinh năm Tý an Thân chủ với Linh-tinh _ _ _ Sửu Mùi _ _ _ Thiên-tướng _ _ _ Ngọ _ _ _ Hoả-tinh _ _ _ Dần Thân _ _ Thiên-lương _ _ _ Mão Dậu _ _ Thiên-đồng _ _ _ Thìn Tuất _ _ Văn-xương _ _ _ Tỵ Hợi _ _ _ Thiên-cơ. Thơ an Mạnh-chủ Mạnh –chủ sao lại kể ra Tuổi Hợi, tuổi Sửu cùng nhà Cự –môn Dần Tuất Hợi với Lộc-tồn Mão Dần Văn Khúc Chuột còn Tham-Lang Vũ-khúc Rắn trắng Dê vàng Liêm trinh Rồng Khỉ, Ngựa hàng Phá quân Thơ an Thân- chủ Thân –chủ ngộ hãm thời hung Người mà tuổi Tý hội cùng Linh-tinh Tuổi Ngọ sao Hoả một mình Sửu Mùi Thiên-tướng Thiên-lương Thân Dần Thiên-đồng Mão Dậu xuất thân Thiên cơ Tỵ Hợi một phần không sai Thìn Tuất Văn-xương an bài Đồng cung Thân Mạnh mấy ai sành tầy. An sao Triệt-lộ Gọi tắt là Triệt TRIỆT Tuỳ theo hàng can của tuổi sinh, mà định cung an sao Triệt. Sao Triệt cư giữa vị trí của 2 cung SINH THUỘC CAN CUNG AN TRIỆT Giáp Kỷ Thân Dậu Ất Canh Mùi Ngọ Bính Tân Thìn Tỵ Đinh Nhâm Dần Mão Mậu Quý Tý Sửu BẢNG KÊ TRIỆT AN TẠI 10 CUNG BÍNH TÂN ẤT CANH GIÁP KỶ ĐINH NHÂM MẬU QUÝ Thí dụ Người sinh năm Bính Dần hay Tân Tỵ An Triệt ở giữa 2 cung Thìn và Tỵ Tam Nguyên THƠ AN TRIỆT Triệt không thời Giáp Kỷ Hầu Kê ất Canh Mùi Ngọ đi về Bính Tân Thìn Tỵ vẫn nề xưa nay Đinh Nhâm Dần Mão sánh bày Mậu Quý Tý Sửu phương này lạ thay. An sao Tuần không Gọi tắt là TUẦN TUẦN Muốn an sao Tuần, phải tính xem tuổi sinh thuộc Giáp nào trong Lục giáp. Vì sao Tuần an theo giáp, thường gọi là con nhà giáp nào, thí dụGiáp Tý, Giáp Tuất. Tuần cũng cư ở vị trí giữa 2 cung như sao Triệt. Tính thấy tuổi sinh thuộc Giáp nào Một Giáp là 10 tuổi Cung an Tuần Khởi từ Giáp Tý tới Quý Dậu Tuất + Hợi Khởi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi Thân + Dậu Khởi từ Giáp Thân tới Quý Tỵ Ngọ + Mùi Khởi từ Giáp ù Ngọ tới Quý Mão Thìn + Khởi từ Giáp Thìn tới Quý Sửu Dần + Mão Khởi từ Giáp Dần tới Quý Hợi Tý + Sửu BẢNG KÊ TUẦN AN TẠI 12 CUNG GIÁP NGỌ GIÁP THÂN GIÁP TUẤT GIÁP THÌN GIÁP TÝ GIÁP DẦNÙ Xem bảng kê dưới Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà Giáp nào, để an sao Tuần tại cung nào. Người sinh tuổi Thuộc Giáp nào Cung an Tuần Ất Sửu hay Nhâm Thân Giáp Tý Tuất Hợi Ất Hợi hay Nhâm Ngọ Giáp Tuất Thân Dậu Ất Dậu hay Nhâm Thìn Giáp Thân Ngọ Mùi Ất Mùi hay Nhâm Giáp Ngọ Thìn Tỵ Ất Tỵ hay Nhâm Tý Giáp Thìn Dần Mão Ất Mão hay Nhâm Tuất Giáp Dần Tý Sửu Cách ghép can chỉ để biết thuộc Giáp nào trong 6 Giáp, vì Thiên can chỉ có 10 hàng , mà địa chỉ có 12. 1Bắt đầu lấy chữ đầu của hàng can là Giáp, đem ghép với chữ đầu của hàng chi, thành ra Giáp Tý , nếu cứ ghép xuôi tới 10 hàng , thì chữ Quý cuối cùng của 10 hàng can sẽ gặp địa- chi Dậu, như vậy là hết 1 Giáp, và các tuổi từ Giáp Tý tới Quý Dậu sẽ thuộc con nhà Giáp Tý. 2Lại tiếp tục lấy chữ đầu của hàng can là Giáp , ghép với chữ Tuất của hàng chi còn lại, nhập chung lại sẽ thấy Giáp Tuất, và cứ như thế , thứ tự nạp xuôi , tới khi chữ Quý cuối cùng bên hàng can , gặp chữ nào ở bên địa-chi, tức là hết một Giáp , như vậy tuổi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi đều thuộc con nhà Giáp Tuất cả. 3Cứ thứ tự nạp xuôi như trên , sẽ thấy hiện ra 5 vòng địa-chi hợp với 6 vòng Thiên can , cho đủ 60 năm , mới đủ 6 giáp. Vì Thiên can có 10 hàng , phải 6 lần mới đủ 60 năm. Và địa-chi có 12, chỉ 5 lần đã đủ 60 năm, nên khi ghép can với chi , mới thấy thừa lại 2 hàng địa-chi , ngay từ giáp đầu là Giáp Tý, và phải ghép đủ với nhau 60 năm mới thấy bên Thiên can tới chữ Quý, thì bên địa-chi cũng tới chữ Hợi Như vậy , năm Giáp Tý là năm khởi đầu của một vòng 60 năm và năm Quý Hợi là năm cuối cùng của 1 vòng 60 năm. Và trong 1 vòng 60 năm , gồm đủ tục Giáp như ta thường thấy . THƠ AN TUẦN Tuần không tính nghịch vòng quanh Giáp Tý Tuất Hợi ngóng trông đêm ngày Giáp Tuất Thân Dậu giãi bày Giáp Ngọ Thìn Tỵ Giáp Thân Ngọ Mùi Giáp Thìn Dần Mão nhớ ai Giáp Dần Tý Sửu không sai một phần . CÁCH AN SAO TUẦN TRÊN BÀN TAY Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà giáp nào , để an sao Tuần trên 12 cung. Thập can có 10 hàng là Giáp ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. COI NHƯ MỘT BÀI THƠ Đọc ngược lại nhập tâm là Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính ất Giáp. Nguyên tắc Bấm tuổi sinh vào cung địa bàn ,rồi đọc ngược , và bấm ngược hàng can , bắt đầu từ can tuổi sinh tới Giáp, vì chữ Giáp là đầu của thập can . Thí dụ Người sinh tuổi Bính Dần -Bấm can Bính vào cung Dần ,rồi đọc ngược hàng can Bính Ất Giáp. Sẽ thấy Bính ở cung Dần ất ở cung Sửu Và Giáp ở cung Tý Như vậy biết ngay, tuổi Bính Dần thuộc con nhà Giáp Tý, an sao Tuần ở giữa hai cung Tuất Hợi. ¯ CỰ MÔN NAM MẠNH CA Cự môn Tý Ngọ nhị cung phùng. Cục trung đắc ngộ rĩ vi vinh. Tam hợp hoá cát Khoa Quyền Lộc Quan cao cực phẩm y tử bác. NGUYÊN TẮC AN SAO TUẦN Sao Tuần an theo lục giáp Vị trí lục giáp trên bàn tay 1 Giáp Tý ở cung Tý an sao Tuần tại Tuất Hợi. 2 Giáp Tuất ở cung Tuất an sao Tuần tại Thân Dậu. 3 Giáp Thân ở cung Thân an sao Tuần tại Ngọ Mùi. 4 Giáp Ngọ ở cung Ngọ an sao Tuần tại Thìn Tỵ. 5 Giáp Thìn ở cung Thìn an sao Tuần tại Dần Mão. 6 Giáp Dần ở cung Dần an sao Tuần tại Tý Sửu. Tam Nguyên MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI TỪ GIÁP TÝ TỚI QUÝ DẬU Hình vẽ áp dụng an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi Bính Dần Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC TÌM TUỔI THUỘC GIÁP NÀO Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược và bấm cung ngược , khởi từ can tuổi sinh , tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm nghịch Bính Ất Giáp . Bính tại cung Dần. Ất tại cung Sửu Giáp tại cung Tý,như vậy tuổi sinh thuộc Giáp Tý An sao Tuần ở Ất Hợi. MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI KHỞI TỪ GIÁP TỚI QUÝ Áp dụng tìm an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi ất Hợi Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược hàng can ,cho tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm ngược hàng can Ất Giáp . Bấm Ất vào cung Hợi. Giáp vào cung Tuất, như vậy tuổi Ất Hợi thuộc Giáp Tuất. An sao Tuần tại Thân Dậu cung. GIÁP ĐỨNG ĐẦU , QUÝ ĐỨNG CUỐI LÀ 1 GIÁP Áp dụng tuổi sinh thuộc Giáp nào Thí dụ người sinh tuổi Đinh Hợi Nạp âm ngược hàng can Đinh Bính Ất Giáp. Bấm Đinh tại cung Hợi tức là tuổi sinh. Bính tại cung Tuất. Ất tại cung Dậu Giáp tại cung Thân, tuổi sinh thuộc Giáp Thân. An sao Tuần tại Ngọ Mùi. 10 TUỔI THUỘC GIÁP NGỌ Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất. Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Mậu Tuất. Nạp âm ngược và bấm ngược hàng can Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Mậu vào cung Tuất. 3 Bấm Bính vào cung Thân Như vậy tuổI sinh thuộc con nhà Giáp Ngọ. An sao tuần vào cung Thìn Tỵ. 10 TUỔI THUỘC GIÁP THÌN Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân. Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Đinh Mùi. Nạp âm ngược hàng can áp dụng cho tất cả các tuổi. 1Bấm Đinh vào cung Mùi. 2Bấm Bính vào cung Ngọ 3Bấm Ất vào cung Tỵ 4Bấm Giáp vào cung Thìn Như vậy tuổI sinh Đinh Mùi thuộc Giáp Thìn. An sao tuần tại cung Dần Mão. 10 TUỔI THUỘC GIÁP DẦN Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ. Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Quý Hợi. Nạp âm ngược Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Quý vào HợI 2 Bấm Nhâm vào cung Tuất. 3 Bấm Tân vào cung Dậu 4 Bấm Canh vào cung Thân. 5 Bấm Kỷ vào cung Mùi 6 Bấm Mậu vào cung Ngọ . 7 Bấm Đinh vào cung Tỵ 8 Bấm Bính vào cung Thìn . 9 Bấm Ất vào cung Mão 10Bấm Giáp vào cung Dần. Như vậy tuổI sinh Quý HợI thuộc con nhà Giáp Dần. An sao tuần vào cung Tý Sửu. Tam Nguyên
Tuần Triệtlà những bộ sao cuối cùng trong khoa tử vi do Tử Vi Cải Mệnh biên đang xem Tuần triệtSao Tuần Và Triệtrất khó hiểu với nhiều người, tuy nhiên qua bài viết dưới đây của chúng tôi, các bạn sẽ có cái nhìn đa chiều và dễ hiểu hơn rất an sao Tuần – TriệtSao Triệt được an dựa theo thiên can của năm sinh, cụ thể như sauThiên CanGiáp–KỷẤt-CanhBính–TânĐinh–NhâmMậu-QuýTriệtThân–DậuNgọ-MùiThìn–TịDần–MãoTý–SửuSao Tuần được an dựa theo năm sinh, cụ thể là dựa theo năm sinh thuộc tuần thủ Giáp nào sinh ra. Từ năm sinh nhẩm ngược trở về năm có thiên can Giáp gần nhất, ta tìm được tuần thủ của năm sinh đó, tiếp theo tra theo bảng sauTuần thủGiáp TýGiáp DầnGiáp ThìnGiáp NgọGiáp ThânGiáp TuấtTuầnTuất-HợiTý-SửuDần-MãoThìn-TịNgọ-MùiThân-DậuNgũ hànhTriệt thuộc thuộc khíTùy tínhTriệtBế tắc, ngăn trở, chướng ngại, chặn đứng, phá trắc trở, dai dẳng, xoay trở bao giờ cũng chậm nghĩa chung của Tuần – TriệtTuần và Triệt là hai sao trong bộ tứ Không bao gồm Địa Không, Thiên Không, Tuần Không và Triệt Không. Tuần có tên gọi đầy đủ là Tuần Trung Không Vong và Triệt là Triệt Lộ Không Vong. Theo ý nghĩa Hán Việt thì Không” có nghĩa như sự hư rỗng, trống không, không có gì cả…”Vong” có nghĩa là là mất, trốn, chết, bị tiêu diệt, đi vắng…Qua đó, với cái tên chung cùng là “Không Vong”, Tuần – Triệt có ý nghĩa như một sự ngăn trở, chặn đứng, trừ bỏ không cho ai ra, không cho ai vào tại nơi nó đóng, một bức tường thành chặn đứng giữa con đường ngăn chặn mọi giao thông đi qua, không cho một kẻ bên ngoài nào động vào…Nếu nơi đó đang phồn thịnh, tốt tươi, nhiều cát tinh chiếm đóng thì quá ư là một điều đáng tiếc, mọi sự tốt đẹp đều bị ngăn trở, hạn chế, không cho được bộc phát ra ngoài…Ngược lại, tại những nơi có sát bại tinh đánh phá, chiếm đóng thì Tuần – Triệt quả là một trại cải tạo hữu ích, một nơi giam giữ, không cho những kẻ lưu manh, gian trá kia được cơ hội gây hại, ảnh hưởng tới những người vô tội xung quanh các cung còn lại. Ngoài ra, đặc tính Tuần – Triệt có tác dụng lên toàn diện, không có biệt lệ, tức là sao này chi phối tất cả các sao đồng cung với chúng, không vị nể một sao nào hay một cung nào. Do đó mà tại một nơi có cả sao tốt lẫn sao xấu thì ảnh hưởng của Tuần – Triệt cũng trở nên nửa xấu nửa tốt, xấu vì giảm chế tác dụng của những cát tinh mà cũng tốt vì ngăn chặn được những cái xấu xuất hiện…Tuần và Triệt có mối quan hệ như anh em ruột thịt, cùng ý nghĩa về sự ngăn cản, trắc trở tại nơi mình đóng nhưng Triệt Không thường thể hiện tính cách như một người anh cả có tính cách mạnh bạo và dữ dội hơn người em là Tuần Không. Nếu như Tuần Không báo hiệu sự khó khăn, ngăn trở, chiếc phanh xe làm tốc độ chậm dần lại thì Triệt Không báo hiệu sự bế tắc, chướng ngại lớn, sự lụi bại nặng nề, là bức tường chắn ngang giữa đường không cho kẻ nào đi qua…Nhưng ngược lại, theo thời gian về lâu về dài thì sức ảnh hưởng của Tuần Không ngày càng trở nên mạnh mẽ và nặng nề hơn, Triệt Không thì chỉ mạnh cho tới khoảng 30 tuổi, tuổi tam thập nhi lập, giai đoạn mà từ đó con người có thể tự lập, không còn chịu ảnh hưởng nặng của gia đình, có thể vùng vẫy, tự do, tha hồ làm những điều mà trước kia tuổi trẻ chưa thể làm được…Ở một khía cạnh khác, mối quan hệ khăng khít giữa Tuần và Triệt còn được thể hiện là khi vào vận có Tuần Không thì Triệt Không sẽ được mở, tạm thời loại bỏ các tác dụng của Triệt Không trong thời gian của vận đó và ngược lại khi vào vận Triệt sẽ mở Tuần. Khi đó nơi được mở khóa có thể tha hồ tung tăng, bay nhảy mặc sức, không lo bị cản trở như xưa, nhưng nếu nơi đó hội quá nhiều sát bại tinh thì phải thật dè chừng vì có thể tai họa cũng sắp tới gần…Tuần – Triệt cũng ưa khi tọa thủ tại những cung vô chính diệu, có tác dụng như một chiếc mỏ neo giúp con thuyền không có người lái trở nên vững chắc hơn, bớt cảm giác chông chênh, bồng bềnh trên sông, trên biển… Một cung vô chính diệu là một nơi vô chủ, không có chính tinh tọa thủ, thường hay bị lung lay, xoay chuyển bởi những tác nhân bên ngoài, qua đó Tuần – Triệt biến thành một bức tường vững chắc, kiên cố, luôn bảo vệ nơi chúng đóng khỏi những tác nhân bên ngoài xung phá, tác động, bền bỉ với thời gian…Nếu vô chính diệu mà được Tứ Không Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không thì rất đẹp, được Tam Không thì đẹp, đươc Nhị Không thì tầm thường, còn chỉ Nhất Không thì phú Tử Vi có câu“Triệt đáo kim cung, Tuần lâm hỏa địa” có ý nghĩa ám chỉ sao Triệt Không có vị trí đắc địa tại hai cung gồm Thân – Dậu ứng với hai tuổi can Giáp – Kỷ và sao Tuần Không đắc địa tại hai cung Tị – Ngọ ứng với tuần thủ Giáp Thân và Giáp Ngọ. Tại vị trí đắc địa này, Tuần – Triệt thường chỉ ngăn trở, chặn đứng những sát bại tinh hoặc những sao có tính chất gây hại bên trong không cho bộc lộ ra ngoài, ngược lại với các cát tinh thì được tiếp tục phát huy mà không hề động chạm tới. Chính vì vậy mà người ta thường rất ưa thích khi Tuần – Triệt đứng tại đúng vị trí đắc địa của nó, thật không gì tốt lại, có thể thấy hai sao Tuần – Triệt là hai trung tinh chuyên về sự ngăn trở, giảm chế, ngăn cản mọi thứ tại nơi nó đóng, chính vì vậy mà chúng thường ưa khi đóng tại những nơi nào có nhiều sát bại tinh, những nơi có nguy cơ phát ra tai họa, bệnh tật như cung Tật Ách, đi cùng cát tinh thì cũng giảm chế đi nhiều tác dụng. Do đó mà có thể đánh giá Tuần – Triệt có tính chất nửa tốt nửa xấu, ta phải tùy thuộc vào vị trí cung tọa thủ và các sao đi kèm thì mới có thể xét đoán được thật rõ ràng và chính xác…Ý nghĩa sao Tuần Triệt ở cung Mệnh“Tuần Triệt niên đầu, thiếu niên tân khổ”Câu phú trên ám chỉ những ai có Tuần – Triệt thủ cung Mệnh thì tuổi trẻ thường dễ hay phải lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm, công việc học tập gặp trắc trở, nhất là khi Tuần Triệt đi theo hai đại vận đầu đời của đương số. Tuy nhiên trường hợp này vẫn có ngoại lệ khi cung Mệnh đắc Tuần Triệt hợp cách, cung Phúc, Phụ Mẫu, Huỵnh Đệ đẹp thì cũng không sao – Triệt thủ cung Mệnh là người thường ít nói, lầm lỳ, không thích bộc lộ ra ngoài, cất giấu mọi thứ bên trong. Bản thân tuổi trẻ hay gặp nhiều trắc trở, ngăn cản nên dễ trở nên trầm tính, không muốn chia sẻ ra bên ngoài là vì như – Triệt thủ cung Mệnh có nhiều sát bại tinh đánh chiếm thì trở thành người nóng tính, nhiều mưu mô nhưng kiểm soát được mình, không để cho những tật xấu, thủ đoạn trong mình được bộc lộ ra, thành một người rất giỏi, khó ai có thể qua mắt được – Triệt thủ cung Mệnh và cung Phụ Mẫu thì có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời để lập sinh bất phùng thời, tuổi trẻ dễ gặp những tai họa bất ngờ ập xuống, gặp nhiều cảnh trớ trêu, càng lớn lên khi tác dụng của Triệt giảm dần thì mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn, còn Tuần thì càng ngày cản trở càng mạnh mẽ hơn, đeo bám đến suốt cuộc nhân thường ưa Triệt hơn Tuần, nữ nhân thường ưa Tuần hơn Triệt. Nam gặp Tuần thì càng về già càng gặp nhiều gian truân, cản trở khó ngóc đầu lên được, gặp Triệt thì chỉ khó khăn tuổi trẻ, tạo nên nhiều ý chí quyết tâm thay vô chính diệu có đắc Tứ hay Tam Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, tuổi niên thiếu vất Vi, Thiên Tướng gặp Tuần – Triệt thì kém, là người dễ hay gặp tai nạn, ốm đau…người dễ nhụt trí, hay thay đổi, công danh không cao, dễ có nhiều lần bị mất chức, đuổi việc…Sao Tham Lang gặp Triệt thì giảm nghĩa Tuần Triệt ở các cung khácÝ nghĩa sao Triệt Không ở cung Phụ MẫuTuần – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì mẹ cha mất sớm, nhất là nếu Nhật, Nguyệt lạc hãm hay bị Không Kiếp chiếu. Cần cân nhắc với hai sao Nhật, Nguyệt và cung Phụ Mẫu có Tuần, – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì cha mẹ vất vả, hay gặp cản trở, chướng ngại trong cuộc đời. Chỉ tốt khi đu cùng chính tinh hãm địa hoặc cung vô chính là người âm dương thuận lý thì tuổi trẻ thường hay gặp khó khăn, cản trở trên con đường học tập, công nghĩa sao Triệt Không ở cung Phúc ĐứcCung Phúc Đức không ưa Tuần – Triệt tọa thủ, chỉ tốt khi có nhiều sát tinh, chính tinh hãm địa hoặc vô chính phúc đức bị trục trặc trên phương diện nào Dương thỉ dòng họ thất tự, phải lập con – Triệt cư cung Phúc thì đương số khó được nhận những may mắn, phúc phần mà tổ tiên để bớt lương duyên, may mắn, dễ muộn vợ muộn mả tổ tiên thường kém, đặt tại vị trí không đẹp, hay bị gì đó vây quanh hoặc chắn ngang phía trước đóng cung Phúc thì tuổi trẻ không được nhiều may mắn, phải tự tôn bồi phúc đức thì càng về già càng được hưởng những phước đức ý. Tuần thì ngược lại, càng lớn càng kém may mắn, ít được tổ tiên phù nghĩa sao Triệt Không ở cung Điền TrạchTuần – Triệt đóng cung Điền thì giảm chế hoặc không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, tài sản có nhưng không đứng tên làm ra của nhưng phải chật cư Phúc – Điền thì không được hưởng di sản tổ phụ để lại, cư Điền – Quan thì tuổi trẻ vất vả, khó tích lũy được tiền bạc của cư Phúc – Điền thì nhà cửa thường dễ của tổ tiên để lại, khó bán được, chỉ sử dụng được để ở và thờ cúng tổ tiên. Cư Điền – Quan thì công việc có thể tích lũy được của cải, tài sản nhưng hay bị hao hụt, hao mất đi một phần, càng về già càng khó tích cư Điền thì nhà thường ở ngã ba, ngã tư đường, Tuần cư Điền thì nhà thường dễ ở cuối ngõ, cuối hành lang chung cư, nhà được vây quanh bởi tường rào, hàng xóm xung quanh, khó tiếp nghĩa sao Triệt Không ở cung Quan LộcTuần – Triệt cư cung Quan thì công danh lận đận, khó nhọc mới làm phải chịu vất vả trong một thời gian, công danh thường khó Tướng, Triệt, Tuần thì dễ có thể bị bãi chức, hay bị tai nạn trong công cư cung Quan thì công việc không thuận lợi nhưng cũng khó bỏ, để thì buồn mà cắt thì cư cung Quan – Nô thì trong công việc không tạo ra được mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cấp dưới, khó phát cư cung Quan – Nô thì công việc hay liên quan, dính dáng nhiều tới bạn bè đồng nghiệp, đôi khi vì họ mà công danh khó có thể lên cao, hay gặp sự cố, cản nghĩa sao Triệt Không ở cung Nô BộcTuần – Triệt thủ cung Nô có nghĩa là tôi tớ thay đổi, ra vào luôn, không ai ở lâu cư Nô – Di thì ra ngoài ít bạn ít bè, không hay giao tiếp, quan hệ với ai, lúc có việc cần thì không có ai bên cư Nô thì ra ngoài ít bạn, chỉ chơi thân với một số người thôi, càng về già càng ít nghĩa sao Triệt Không ở cung Thiên DiTuần – Triệt cư cung Di thì là người ít ra ngoài, ra ngoài ít quan hệ, giao tiếp, đặc biệt là khi có Tuần – Triệt tại 2 cung Nô – – Triệt tại 2 cung Di – Tật thì lại tốt, người ra ngoài cẩn trọng nên ít dính tai vạ, bệnh ra ngoài hay đi xa dễ hay gặp vấn đề, gặp chuyện để rồi lại phải quay về đi làm ăn xa thường không hay được thuận lợn, hay gặp cản trở, tai vạ ở bên nghĩa sao Triệt Không ở cung Tật ÁchRất cần có Tuần – Triệt tại cung Tật Ách vì nhờ hai sao này mà bệnh, tật và họa sẽ tiêu tán hay giảm thiểu đi rất nhiều, sức khỏe và may mắn sẽ được bảo đảm nhiều cư cung Tật thì đánh tan bệnh tật, tai họa cư cung Tật thì ngăn cản, giữ nguyên không cho bệnh tật hay tai họa phát triển, tái phát, do vậy mà cung Tật vẫn thường ưa Triệt nghĩa sao Triệt Không ở cung Tài BạchTuần – Triệt cư cung Tài thì làm cản trờ khả năng kiếm tiền, khả năng thu nhập của đương không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, làm ra của nhưng phải chật – Triệt cư Tài – Tật thì tuy đồng tiền kiếm ra chậm, ít nhưng hạn chế được khả năng dính tới tai họa, bệnh tật đi nghĩa sao Triệt Không ở cung Tử TứcTuần – Triệt cư cung Tử thì sát con, nhất là con đầu sinh con đầu lòng khó khăn, khó thủ cung Tử Tức thì thường chậm trễ có con, gặp nhiều vấn đề ngăn trở. Triệt thủ cung Tử thì thường dễ xảy thai, hao hụt con cái hay gặp trắc trở sau này, ở xa cha cư cung Tử – Phối thì chậm vợ chậm chồng nhưng cưới thường dễ được cả trâu lẫn nghĩa sao Triệt Không ở cung Phu ThêTuần – Triệt thủ cung Phu Thê nói lên sự trắc trở hôn nhân, nhất là sự thất bại của mối tình người khác làng, khác tỉnh mới tốt, nhưng nhân duyên phải gặp khó gặp Mã Vợ chồng bỏ nhau rất dễ dàng, vợ chồng ôm con bỏ về cư cung Phối thì dễ có lần tưởng sắp cưới rồi lại nghĩa sao Triệt Không ở cung Huynh ĐệTuần – Triệt cư cung Huynh Đệ thì anh chị em xung khắc hoặc ít anh chị thì dễ có anh cả, chị cả mất nghĩa sao Triệt Không đi cùng các sao khácTuần – Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Quốc Ấn thì công danh không cao, treo cao thì ngã đau, dễ bị sa thải, mất chức…Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Tử Vi thì dễ dính tai họa nguy hiểm tới tính đi cùng Tham Lang thì giảm thọTuần – Triệt đi cùng Cự Môn Tý Ngọ thành cách thạch trung ẩn ngọc, trở thành con người vô cùng thông minh và sắc sảo, giảm chế đi cái thị phi, nói nhiều của Cự – Triệt đi với Thái Âm Thái Dương hãm địa thì tốt, làm tăng sáng cho Âm – Triệt đi cùng Thiên Phủ thì thành cách Phủ phùng Không, chủ về cái kho rỗng, khó tích lũy được tài sản, của nghĩa sao Triệt Không đi vào các hạnHạn vào Triệt thì mở Tuần, vào Tuần thì mở gặp sao sáng sủa thì hạn lại trở nên mờ ám, mưu sự trắc trở, thất gặp sao xấu xa thì hạn được trở nên sáng sủa, dù có gặp trắc trở ban lại, Tuần Triệt là hai sao hết sức quan trọng, chi phối các cung, các sao, có thể biến tốt thành tương đối xấu, biến xấu thành tương đối tốt. Hiệu lực nghịch đảo đó có thể làm lạc hướng luận đoán nếu sự cân nhắc không tinh vi.
Với sao tuần giường như các quý vị có vẻ hiểu rõ hơn do lý thuyết và cách an có phần dễ hiểu hơn dễ nhận biết hơn. như quý vị đã biết tuần thì được an theo lục giáp. sự sự khuyết can mà thừa chi vì thế nên phải độn, đẩy lên hai can để cho đủ chu kỳ vậy. nên cái điểm độn, cái khuyết đó theo lý thuyết thì ta cho nó là vị trí tuần không, nghĩa thực là " khiếm khuyết, là thiếu, chưa đến" đại thể như vậy chứ không phải là cái gì đó ảo hư hay vô. nó vẫn tồn tại một phương diện khách quan chứ không phải chủ quan vậy. Còn nói đến triệt có lẽ đây là một định nghĩa mù mờ, hầu như không có sách vở hay bất kỳ ai đã giải thích nguyên lý an sao triệt này. và tại sao lại an như thế vì đâu? phần lớn chúng chỉ biết áp dụng rồi an nó theo can vậy. rồi tranh cãi là nó không phải không vong, mới là không vong. thực chất tôi cũng chỉ mới hiểu ra điều này mời gần đây mà thui, trước đó vẫn còn mù mờ và mơ màng lắm. và theo các sách xưa thì sao triệt còn gọi là tiệt. và cứ hiểu theo định nghĩa đắn đoạn, băm chảm gì đó. quả là rất mơ hồ phải không quý vị? rùi tự hỏi tại sao triệt không an tại tuất hợi? giường như không có câu giải thích nào cho nó vậy? Theo cách an thì chúng ta an sao triệt như _ giáp và kỷ cùng an tại thân dậu _ ất canh thì an tại ngọ mùi _ bính tân an tại thìn tỵ _ đinh nhâm an tại dần mão _ mậu quý an triệt tại tý sửu vậy tại sao nó lại an như thế? sau đây tôi xin được giải thích _ sao triệt cũng được an theo như nguyên lý an sao tuần không vậy, nhưng chỉ có điều nó được an theo lục giáp của tháng của năm sinh thuộc giáp nào sau đó rồi an tại đó thôi muốn hiểu được ta phải thuộc hổ độn _ năm giáp kỷ khởi tháng dần bắt đầu từ can bính. ta sẽ khởi thuận là bính dần là tháng 1 tiếp đến là đinh mão là tháng 2. tiếp tục đến mậu thìn, kỷ tỵ, canh ngọ, tân mùi, nhâm thân, quý dậu, giáp tuất. đến chữ giáp tuất vậy năm giáp kỷ này có các tháng và các đó có xuất hiện tuần giáp tuất. vậy do tuần giáp tuất theo nguyên lý tuần không thì tuần giáp tuất an tuần không tại thân dậu. _năm ất canh thì khởi tháng dần là can mậu dần, tiếp tục khởi thuận tháng đến kỷ mão, canh thìn,tân tỵ, nhâm ngọ, quý mùi và đến giáp thân. vậy năm ất canh có các tháng nằm trong tuần giáp thân do vậy theo nguyên lý an sao tuần, thì đến giáp thân thì tuần không an tại ngọ mùi vậy. _năm bính tân khởi canh dần là tháng 1 tiếp đến tân mão, nhâm thìn, quý tỵ và đến giáp ngọ, tương tự tuần giáp ngọ ta an tuần không tại thìn tỵ. _ năm đinh nhâm ta khởi từ tháng nhâm dần tiếp đến quý mão, giáp thìn, tương tự tuần giáp thìn an sao tuần không tại mão dần _ năm mậu quý khởi ngay là giáp dần vậy theo quy luận an sao tuần thì giáp dần an tại tý sửu vậy + Kết Luận 1 thực chất ý nghĩa của sao triệt cũng được an theo lục giáp như tuần không vậy nhưng chỉ khác tuần không của một giáp lớn 10 năm, còn sao triệt vì thời gian ngắn hơn chỉ trong tuần chu kỳ là 10 tháng lại xuất hiện vậy. chỉ vì lẽ đó người sáng tạo ra tử vi không thể lấy lý do lại an thêm sao tuần được nữa. mà phải đặt tên là sao triệt. và sao tuần tượng trưng cho sự khuyết hãm thời gian của năm hay của thái dương vậy. còn sao triệt tượng trung cho tuần không của nguyệt tháng hay thái âm vậy. chính vì lẽ sao triệt nhanh đến, chu kỳ ngắn nên nó có sức phá, cản trở sớm hơn, nhanh hơn sao tuần chu kỳ nâu hơn. và có từ đây mới có lý thuyết triệt ảnh hưởng 30 năm đầu, tuần sau 30 năm chăng? tuần là tuần, triệt là triệt đương nhiên quan điểm đó là sai trái, thiếu sót. + Kết Luận 2 sao triệt cũng là một trong tam không mà người xưa nói vậy. nó cũng là một sao tuần không vậy. có người chắc sẽ hỏi năm mậu quý cứ thể mà khởi sẽ qua 2 giáp là giáp dần và giáp tý sao không an theo giáp tý lại an thoe giáp dần. xin thưa là nếu giáp dần là cái đi trước, đến trước ta phải theo nguyên tắc đó, sao có thể an sao triệt theo giáp tý được? tiếp nữa nếu an giáp tý nữa thì năm mậu quý có tới 4 sao triệt ở tý sửu và tuất hợi sao? đương nhien là vô lý đúng không ạ? THEO QUY LUẬT TRÊN MÀ AN THÌ TUẦN KHÔNG CŨNG LÀ AN TRIỆT LỘ VẬY CHỈ KHÁC LÀ TUẦN CỦA MỘT GIÁP 10 NĂM, VỚI TUẦN CỦA 1 GIÁP 10 THÁNG VẬY. Dẫn theo trang
cách an sao tuần triệt