Văn mẫu lớp 11. Tháng Sáu 4, 2018 hoangbach Leave a Comment on Bài văn chứng minh nhận định về thơ mới. Đề bài: Với thơ mới thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới, Sự ra đời của phong trào thơ mới, sự xuất hiện của cái tôi là một bước chuyển mình to lớn của văn
- Nhà nằm trên phố Tô Vĩnh Diện khu phân lô quân đội cách Ngã Tư Sở 800m, kinh doanh sầm uất giáp với những tuyến phố lớn
Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách giàu tình cảm. 1. Thơ mới mang tinh thần dân tộc sâu sắc: Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một khát vọng tự do. Thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vang xa của phong trào cách mạng 1925-1931 (chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và khởi nghĩa Yên Bái).
Trang chủ Hỏi đáp lớp 11. Nguồn gốc phong trào thơ mới? Nguồn gốc phong trào thơ mới Theo dõi Vi phạm Trả lời (0) Cách tích điểm HP. Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời. Nhưng khi bạn suy nghĩ trả
Học Ngay Lớp Thầy Mạnh Lớp 11; II. Đề kiểm tra học kì 2 toán 11; 1. Phần trắc nghiệm; 2. Phần tự luận; III. Đề kiểm tra toán 11 học kì 2 năm học 2017-2018 của trường THPT Lê Hồng Phong, Khánh Hòa; kiểm tra học kì 2 toán 11; 2. Đáp án đề kiểm tra học kì 2 toán 11; Video liên
Thu (Chế Lan Viên) 11. Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ) 12. Chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp) Vũ Quần Phương: 1. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) 2. Lời kỹ nữ (Xuân Diệu) 3. Đi giữa đường thơm (Huy Cận) 4. Tràng giang (Huy Cận) 5. Nhớ rừng (Thế Lữ) 6. Bên sông đưa khách (Thế Lữ) 7. Trưa đơn giản (Chế Lan Viên) 8. Ở Đây thôn Vỹ Giạ (Hàn Mặc Tử) 9.
NU91U. Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ văn khối 11 - Chuyên đề 4 Chủ nghĩa lãng mạn và Phong trào Thơ mới", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênChuyên đề 4 Chủ nghĩa lãng mạn và Phong trào Thơ mới. -Thời gian thực hiện 4 tiết A. Mục tiêu cần đạt Qua bài giảng tự chọn giúp học sinh - Hệ thống lại kiến thức đã học về khuynh hướng sáng tác lãng mạn thuộc bộ phận văn học hiện đại Việt Nam từ đàu thể kỷ XX đến năm 1945 trong chương trình Ngữ văn 11 - Bảo đảm học sinh bám sát được nội dung vận dụng vào làm các bài nghị luận về thơ. - Tạo cho học sinh biết cảm thụ, thích thú về vẻ đẹp ngôn từ trong thơ mới nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung. B. Phương pháp -Phương pháp chủ đạo Tổng hợp, đặt câu hỏi, gợi mở -Phương pháp kết hợp Phân tích ví dụ, thuyết giảng, tái tạo, câu hỏi nêu vấn đề, C. Tiến trình tiết dạy định, 2’ thiệu bài mới 3’ TG HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT 40’ 40’ 45’ 5’ HĐ 1 Tìm hiểu sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn CNLM + Trên thế gới. + Việt Nam Gv Khái quát, đi tìm nguồn gốc CNLM Hs Trình bày quan điểm của cá nhân. Gv Nhận xét, tổng hợp, Chuẩn kiến thức. Gv Chủ nghĩa cổ điển Tiếng Pháp Classique; lớp học Nghĩa rộng; mẫu mực. Nghĩa hẹp thường đợc gọi một cách hoàn chỉnh là chủ nghĩa cổ điển để chỉ khuynh hướng văn học mang tính chất mẫu mực khuôn phép dạy trong các nhà trường ở Thể kỷ XVII đến XIX x. thêm Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử. Gv Trình bày hai khuynh hướng chính của chủ nghãi lãng mạn. HĐ 2 HD tìm hiểu về Phong trào thơ mới. Gv Hướng dẫn ọc sinh tìm hiểu nguồn gốc sự ra đời của phong trào thơ mới. Hs Thảo luận trao đổi nguyên nhân sự ra đời của phong trào thơ mới Gv giảng thêm Sự ra đời của Giai cấp tư sản và tiểu tư sản tuy khơng tham gia chống Pháp và khơng đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình. Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thơng qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hố, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác. Gv Dẫn dắt vẫn đề Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hịa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, ? Giai đoạn này diễn ra cuộc đấu tranh nghệ thuật nào tiêu biểu? GV KL Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra khơng thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hồng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. ? Trong gia đoạn phát triển của VH Việt nam GĐ 1936 – 1939 có những tập thơ của nào? Của nhà thơ nào tiêu biểu? HS Thảo luận trả lời. GV KL vấn đề Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hĩa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳng định của cái Tơi. Cái Tơi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tơi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thốt ly riêng. ? Tìm những tác giả và tác phẩm tiêu biểu gia đoạn này? Gv KL vấn đề. GV dẫn dắt vấn đề Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã cĩ những đĩng gĩp vào văn mạch của dân tộc” “ Trong phần tốt của nĩ, Thơ mới cĩ một lịng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nĩi của dân tộc”. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dịng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa” “Các nhà thơ mới đều giàu lịng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”. ? Tinh thần dân tộc được thể hiện trong những tác phẩm tiêu biểu? Gv Giảng thêm Nhà thơ Thế Lữ luơn mơ ước được “tung hồnh hống hách những ngày xưa” Nhớ rừng; Huy Thơng thì khát khao “Muốn uống vào trong buồng phổi vơ cùng Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lịng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca “Nằm trong tiếng nĩi yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Gv Liệt kê một số tác giả và tác phẩm thể hiện được tâm sự yêu nước thiết tha. Gv Giảng thêm Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái khơng khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đồn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Hình ảnh thơn Đồi, thơn Đơng, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước. ? Tìm những hạn chế của Phong trào thơ mới ? Hs Suy nghĩ trả lời Gv Kl vấn đề ? Trình bày những đặc điểm nổi bật của PTTM GV Giảng, lấy ví dụ chứng minh Ý thức về cái Tơi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. Cái Tơi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đĩ là con người cá tính, con người bản năng chứ khơng phải con người ý thức nghĩa vụ. Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng trước “Tơi là con chim đến từ núi lạ ”, “Tơi là con nai bị chiều đánh lưới” Cĩ khi đại từ nhân xưng “tơi” chuyển thành “anh” “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!” Thoảng hoặc cĩ khi lại là “Ta” “Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất Khơng cĩ chi bè bạn nổi cùng ta”. ? Trình bày cái buồn trong thơ mới. Gv Lấy ví dụ phân tích. Cái Tơi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cơ đơn. Nỗi buồn cơ đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh “Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khơ”. Lưu Trọng Lư . Với Chế Lan Viên đĩ là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” tức dân Chàm “Đường về thu trước xa xăm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tơi” ? Trình bày những cảm nhận về thiên nhiên tình yêu trong thơ mới. GV Lấy ví dụ phân tích Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao Cĩ cu gáy và bướm vàng nữa chứ” Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ơng hồng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên “Tơi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thơi chẳng biết gì”. Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cơ đơn sầu não “Với tơi tất cả như vơ nghĩa Tất cả khơng ngồi nghĩa khổ đau”. GV Dẫn dắt vấn đề Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hĩa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. ? Trình bày một số đặc điểm nghệ thuật của phong trào thơ mới. GV Lấy ví dụ chứng minh “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lịng lên chơi vơi” Xuân Diệu hay “Ơ hay! Buồn vương cây ngơ đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mơn Bích Khê Ngồi việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới cịn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” Xuân Diệu “Con đường nhỏ nhỏ, giĩ xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” Xuân Diệu hay “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đị biếng lười nằm mặc dưới sơng trơi” Anh Thơ Trong làn nắng ửng, khĩi mơ tan Đơi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt giĩ trêu tà áo biếc Trên dàn thiên lý. Bĩng xuân sang”. Gv Trình bày đặc điểm này. Lấy ví dụ minh hoạ Trong bài Tràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thơi Hiệu để bày tỏ lịng yêu nước “Lịng quê dợn dợn vời con nước Khơng khĩi hồng hơn cũng nhớ nhà”. HĐ 3 Hướng dẫn Tổng kết và luyện tập Gv Tổng kết chuyên đề này cho HS Gv Hd HS Luyện tập ở nhà Tìm đọc các tác gải và tác phẩm của phong trào thơ mới. I. Nguồn gốc sự ra đời của CNLM. 1. Nguồn gốc, đặc điểm của CNLM Vào cuối thể kỷ XVIII nửa đầu thể kỷ XIX Một trào lưu văn hoá lớn nhất ở Âu – Mỹ ra đời và có ảnh hưởng, ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của văn học toàn thể giới. Vào thể kỷ XVIII từ lãng mạn vốn được dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang đường, kì lạ, khác thường chỉ thấy có ở trong sách chứ không có trong hiện thực. Vào cuối thể kỷ XVIII nửa đầu thể kỷ XIX CNLM trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một khuynh hướng văn học mới đối lập với chủ nghĩa cổ điển. Một số nét tiêu biểu của CNLM Đề cao chủ nghĩa cá nhân. Đề cao vai trò to lớn của cái trực giác, vô thức. Đề cao vai trò sáng tạo của nghệ sĩ. Nghệ sĩ có quyền cỉa biến thế giới hiện thực bằng cách tạo cho mình một thế gới riêng, tốt đẹp hơn. 2. Hai khuynh hướng chính - Khuynh hướng tiêu cực Thể hiện thái độ bi quan với thực tại, tình cảm chán chường và hoài niệm quá khứ. - Khuynh hướng tích cực Thể hiện thái độ trần trề niểm tin vào thực tại và tương lai, lạc quan về nhân thế và khả năng cải tạo đời sống. II. Phong trào thơ mới. 1. Nguồn gốc sự ra đời của Phong trào thơ mới ở Việt Nam Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những địi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nĩ là tiếng nĩi, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nĩi của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đơng Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. 2. Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới . Cĩ thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai đọan a- Giai đoạn 1932-1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khơi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thơng, Vũ Đình Liên liên tiếp cơng kích thơ Đường luật, hơ hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ b- Giai đoạn 1936-1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tập Thơ thơ -1938, Hàn Mặc Tử Gái quê -1936, Đau thương -1937, Chế Lan Viên Điêu tàn - 1937, Bích Khuê Tinh huyết - 1939, Đặc biệt sự gĩp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn” . Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. . c- Giai đoạn 1940-1945 Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhĩm Dạ Đài gồm Vũ Hồng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng ; nhĩm Xuân Thu Nhã Tập cĩ Nguyễn Xuân Sanh, Đồn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung ; nhĩm Trường thơ Loạn cĩ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Cĩ thể nĩi các khuynh hướng thốt ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Bên cạnh đĩ, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, khơng lối thốt. 3- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới a- Tinh thần dân tộc sâu sắc Thơ mới luơn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lịng khao khát tự do. Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xơi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ cịn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưịi nghệ sĩ khơng được tự do Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm Cĩ thể nĩi, các nhà thơ mới đã cĩ nhiều đĩng gĩp, làm cho tiếng Việt khơng ngày càng trong sáng và giàu cĩ hơn. b- Tâm sự yêu nước thiết tha Cĩ thể nĩi, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lịng yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đĩ là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp Em đi Chùa Hương; hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh Quê hương - Những mặt hạn chế của PTTM Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nĩi trên, Phong trào thơ mới cịn bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, khơng tìm được lối ra, thậm chí thốt ly một cách tiêu cực. Điều đĩ đã tác động khơng tốt đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. 4- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới a- Sự khẳng định cái Tơi Phong trào thơ mới, cái Tơi ra đời địi được giải phĩng cá nhân, thốt khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đĩ. Đĩ là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới. “ Thơ mới là thơ của cái Tơi”. Thơ mới đề cao cái Tơi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đĩng gĩp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. b - Nỗi buồn cơ đơn Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hồi Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới khơng phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người cĩ tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6. Nỗi buồn cơ đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy cịn là cách giải thốt tâm hồn, là niềm mong ước được trải lịng với đời và với chính mình. c - Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đĩ là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống. Huy Cận. d - Một số đặc sắc về nghệ thuật Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phĩng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngơn, thất ngơn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngơn cĩ Tiếng thu Lưu Trọng Lư, Ơng Đồ Vũ Đình Liên, Em đi chùa Hương Nguyễn Nhược Pháp Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, chủ yếu viết theo thể thơ thất ngơn, cịn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát - Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ tồn thanh bằng Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngơn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thốt khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngơn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh e - Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp. Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,... III. Kết Luận Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã cĩ chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và cĩ sức sống lâu bền trong lịng các thế hệ người đọc. D. Củng cố – Dặn dò 5’ 1. Củng cố Học sinh phải hiểu được - Sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn trên thế giới - Sự ra đời của phong trào thơ mới ở Việt nam - Các giai đoạn phát triển và đặc điểm của thơ mới. 2. Dặn dò - Học kỹ nội dung bài - Đọc thêm các tác phẩm có liên quan để tìm hiểu thêm về phong trào thơ mới - Học thuộc lòng các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 Hk II -
Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ mới ngữ văn 11 để làm sáng tỏ nhận đinh của Hoài Thanh ”Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt” “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt.” Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của Hoài Thanh, qua việc phân tích một số bài thơ Mới đã học trong chương trình Ngữ văn 11 như Vội vàng – Xuân Diệu, Tràng giang – Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Tương tư – Nguyễn Bính. Hướng dẫn cách làm Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Lòng yêu nước thương nòi qua tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ Mới. 1. Giới thiệu vấn đề – Hoài Thanh là một trí thức yêu nước, một nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là phê bình thơ. Cách bình của Hoài Thanh không bằng lí trí mà bằng tình cảm, không bằng lí lẽ khô khan mà bằng cách diễn đạt giàu hình ảnh và cảm xúc; ngắn gọn mà nói đúng được cái thần thái độc đáo của mỗi hồn thơ, câu thơ. – Trước Cách mạng, ông có cuốn Thi nhân Việt Nam viết chung với Hoài Chân, một tuyển Thơ mới xuất sắc, lời bình tinh tế, tài hoa, có giá trị tổng kết sâu sắc cả một phong trào thơ lãng mạn trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca. Khi nói về các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh nhận xét “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếngViệt.” thích đề – “Họ” ở đây là các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…Đó là thế hệ nhà thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1941, những trí thức có lương tri đang sống và sáng tác trong thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ. – Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước…. Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của mình vào tình yêu tiếng Việt. Vì họ nghĩ rằng, tiếng Việt đã hứng vong hồn dân tộc những thế hệ qua. Vận mệnh dân tộc đã gắn bó với vận mệnh tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buốn mất nước. 3. Phân tích một số bài Thơ mới để làm sáng tỏ. a. Vai trò, đặc điểm, vị trí của tiếng Việt – Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc ta, đã hình thành từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tiếng Việt càng trở nên giàu và đẹp, thể hiện được tâm hồn và sức sống của người Việt Nam – Chưa thể trở thành chiến sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng, các nhà Thơ mới đã dùng tiếng Việt sáng tác thơ ca, như một cách giữ gìn, kế thừa và tôn vinh tiếng nói và văn hóa của dân tộc. b. Chứng minh các nhà Thơ mới có tình yêu tha thiết tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt – Qua thơ, các nhà Thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng, tinh tể, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm ảnh hưởng chữ Hán và các thể thơ chủ yếu là Đường luật; thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ…Họ coi tiếng nói của cha ông là là hương hỏa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình ảnh Vội vàng- Xuân Diệu – Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật ngôn từ như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các cách tu từ…, các nhà Thơ mới đã thể hiện được sinh động trong thơ những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh trí đất nước mà trong thơ cổ vẫn chỉ là ước lệ. Chính là, các nhà Thơ mới đã dồn tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt – Không chỉ vẽ nên những cánh sắc quê hương đất nước với những tình cảm trong sáng, qua thơ các nhà Thơ mới còn gửi gắm nỗi buồn mất nước thầm kín mà thiết tha Tràng giang – Huy Cận – Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất phong phú sâu sắc. Đó một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước. – Có thể còn có những tác giả, tác phẩm Thơ mới có thái độ chán chường ủy mị yếu đuối, nhưng đó chỉ là nét cá biệt, không phải là tinh thần của Thơ mới. Thơ mới bộc lộ cái tôi cá nhân sầu buồn, đó là nỗi sầu buồn nhân văn, khi hướng tình cảm của mình về quê hương đất nước. Bởi vậy tình yêu quê hương đất nước, dồn trong tình yêu tiếng Việt của các nhà Thơ mới, đã góp phần rung lên tiếng tơ lòng muôn điệu của những tâm hồn Việt. Tình yêu đó rất đáng trân trọng Đề sưu tầm Đây thôn vĩ dạ, một thời đại trong thi ca, Tràng giang, vội vàng
Bài văn mẫu lớp 11Những bài văn mẫu hay lớp 11Văn mẫu lớp 11 Trình bày những nét chính về phong trào thơ Mới dưới đây nằm trong các bài văn mẫu lớp 11 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham bày những nét chính về phong trào thơ MớiNền văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổi lên hai trào lưu văn học tiêu biểu Văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn. Nhắc đến trào lưu văn học lãng mạn không thể không nhắc đến thơ Mới. Đây là một phong trào văn học xuất hiện và nồ rộ trong vòng mười năm nhưng những thành tựu nó để lại là vô cùng lớn, làm nên một cuộc cách tân có ý nghĩa cách mạng về thơ Hoài Thanh, khái niệm thơ Mới phải được hiểu là mới cả về mặt nội dung và hình thức, mà trước hết là về nội dung, ông cũng cho rằng, thơ ca Việt Nam đi từ thời cổ điển sang hiện đại là đi từ chữ “ta” đến chữ “tôi” Một thời đại trong thi ca. Ban đầu, thơ Mới được hiểu là thơ tự do nhưng đến chặng phát triển đỉnh cao của nó, khái niệm về thơ Mới được bổ sung và hoàn chỉnh. Thơ Mới là thơ ca phản ánh cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ với tất cả các cung bậc phong phú đa dạng, phức tạp của nó thông qua hình thức nghệ thuật có nhiều đổi mới, cách tân nhằm phát huy cá tính sáng tạo độc đáo của mỗi người nghệ Mới ra đời là sự vận động phát triển của thơ ca nói chung mang tính tất yếu đã đến lúc phải đổi mới, cách tân, nhất là về mặt thể loại để thoát khỏi tính qui phạm hạn chế cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Bên cạnh đó là sự biến đổi trong đời sống xã hội cũng làm nảy sinh một bộ phận công chúng mới và không thể không kể đến ảnh hưởng của văn học phương Tây nói chung, thơ ca lãng mạn và trường phái thơ tượng trưng Pháp nói chung. Quá trình hình thành của thơ Mới được đánh dấu bằng bài viết “Một lối thơ mới trình làng giữa làng thơ” kèm theo bài thơ “Tình già” của Phan Khôi đăng trên tờ “Phụ nữ tân văn” vào tháng 10 năm 1932. Trong bài viết của mình, Phan Khôi công khai chĩa mũi nhọn vào thơ ca cũ, loại thơ gắn liền với những qui phạm, niêm, luật, vần, đối gò bó, chặt chẽ. Từ đó, ông đề xướng, ra một tư tưởng mới Thơ phải vượt ra khỏi tính qui phạm ấy. Thơ không bị bó hẹp bởi số câu, số chữ lại càng không bị chi phối bởi qui định bằng trắc, niêm luật trong thơ cũ. Với sự kiện này, Phan Khôi đã gây nên được cả một cao trào hưởng ứng. Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào thơ Mới đã chiếm được ưu thế trên thi xuất hiện, vận động phát triển và đạt đỉnh cao và bước vào thoái trào của phong trào thơ Mới có thể chia thành ba chặngTừ năm 1932 - 1935, đây là chặng đường phong trào thơ Mới đấu tranh về mặt lí luận, chứng minh về mặt thực tiễn để khẳng định vị trí, chỗ đứng của mình trên thi đàn văn học dân tộc. Sau một thời gian ngắn, phong trào thơ Mới thực sự thắng thế. Thơ Mới chiếm được cảm tình yêu mến của tầng lớp công chúng thị dân, trí thức tiểu tư sản, sinh viên, học sinh và thế hệ trẻ ở các đô thị. Họ tìm thấy ở đó bức chân dung tâm hồn của mình, tìm thấy sự giao cảm giữa người nghệ sĩ, thi ca với chính tâm hồn họ. Thơ Mới thời kì này tuy những sáng tác tuy còn ít ỏi nhưng thực sự có tiếng vang, bước đầu mang đến những cách tân mới 1936 đến 1939 có thể coi là chặng viên mãn của phong trào thơ Mới với sự xuất hiện của hàng loạt các tên tuổi - mà về sau đã được Hoài Thanh, Hoài Chân tổng kết qua công trình nghiên cứu của mình, chỉ ra những sắc thái riêng như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Huy Cận... Đặc sắc của phong trào thơ Mới ở chặng này là nó diễn tả một cách chân thực, sinh động nhiều màu, nhiều vẻ cái tôi cá nhân của các thi sĩ. Dường như không có bất kì sự trùng hợp nào trong một tính chất thống nhất của thơ Mới là buồn, sầu, tủi ở mỗi người nghệ sĩ. Hơn nữa, trên bình diện hình thức nghệ thuật, mỗi nghệ sĩ tìm đã tìm được cách diễn đạt riêng của mình, thể hiện cá tính sáng tạo nhưng vẫn không tách rời sự gắn bó với quê hương đất nước dân tộc bằng những rung động trong năm 1940 đến năm 1945, thơ Mới bước vào giai đoạn thoái trào mà nguyên nhân trước hết là do bản chất của thơ Mới là tìm về cái Tôi, đào sâu cái Tôi cá nhân nhưng đào sâu mãi cái tôi cá nhân mà không chịu mở rộng nó ra bên ngoài và đưa bên ngoài vào cuộc sống của chính mình mà cái tôi trở nên nhỏ bé, tất yếu dẫn đến sự bế tắc, nhất là khi chưa tìm được ánh sáng lí tưởng mới soi đường. Điều này được thể hiện rất rõ trong tập “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên“Ta là ai ngọn gió siêu hìnhCâu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt”Thơ Mới ra đời là sự vận động phát triển của thơ ca nói chung mang tính tất yếuCuộc chiến tranh xâm lược lần hai của thực dân Pháp với không khí bi thương từ thành thị tới nông thôn cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của người nghệ sĩ thơ Mới, vốn là những người đang vì tôn thờ cái Tôi của mình mà đứng ngoài cuộc... Chính vì những điều đó mà ở giai đoạn này, thơ Mới có nhiều thay đổi. Các thi sĩ không còn sáng tác nhiều và sung sức như chặng trước, khiến cho thơ ca có diện mạo khá nghèo nàn. Những cái tôi cá nhân hoặc trở nên cũ mòn, không phù hợp hoặc mang màu sắc cá nhân, hưởng thụ với những triết lí của chủ nghĩa cá nhân người tư sản. Thơ Mới xuất hiện xu hướng chú trọng tới chủ nghĩa hình thức thuần túy như trong nhóm Xuân thu nhã tập. Mặt khác, một số nhà thơ chủ trương thành lập các trường phái thơ mang tên thơ điên, thơ loạn thể hiện sự bế tắc trong tư tưởng và quan niệm nghệ thuật. Thơ Mới bước vào giai đoạn thoái trào để chuẩn bị cho sự phát triển theo những hướng mới, phù hợp thành, phát triển đạt đỉnh cao và suy thoái trong vòng mười năm, không thể phủ nhận rằng các nhà thơ Mới và thơ ca của họ vẫn đứng ngoài cuộc đấu tranh chung của dân tộc, chưa phản ánh được những mảng hiện thực được coi là trung tâm, là sôi động nhất thời bấy giờ; cái Tôi cá nhân vẫn mang màu sắc bi quan chủ nghĩa nhưng thơ Mới cũng đã đạt được những thành tựu nổi bật. Nhìn chung thơ Mới có giai điệu, âm hưởng buồn nhưng với cảm hứng bay bổng và lãng mạn của mình thì ý nghĩa khách quan của nó chính là ở một thái độ đối lập, vượt qua khỏi thực tại đen tối thời bấy giờ, ngầm thể hiện ước mơ về những sự đổi thay. Thơ Mới đã được viết ra với cảm hứng về quê hương, đất nước, thiên nhiên, phong cảnh làng quê... rất đỗi quen thuộc. Nó chứng tỏ sự gắn bó với quê hương đất nước trong tâm hồn các thi sĩ. Đây cũng là một biểu hiện của lòng yêu nước, và tinh thần dân tộc của các nhà thơ Mới. Thơ Mới cũng mang đến một cuộc các mạng trong thi ca cả về mặt nội dung và hình thức thơ. Lần đầu tiên, “chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đôi của nó” xuất hiện trong thi ca” cùng với đó là sự nở rộ của các phong cách thơ độc đáo không một sự lặp lại. Thơ Mới cũng đem đến sự cách tân mới mẻ trong hình thức thơ phá bỏ tính qui phạm nghiêm ngặt trước đó, mang đến cho thơ một màu sắc mới, một hình ảnh góp đáng ghi nhận của thơ Mới là đã làm nên một cuộc cách tân có ý nghĩa cách mạng về thơ ca. Đó là một hiện tượng nên có, cần có và phải có trong thơ ca Việt Nam Nguyễn Đăng Mạnh.-Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11 Trình bày những nét chính về phong trào thơ Mới. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm tài liệu để học tập nhé. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo “Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp" anh chị suy nghĩ gì về ý kiến trên?Thành ngữ có câu “Không thể bẻ đũa cả nắm” anh chị có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hộiTrái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng?
phong trào thơ mới lớp 11